Hàng nghìn việc làm lương hấp dẫn dành cho lao động xuất khẩu về nước

13:37 |
Ngày 13-11, Trung tâm Dịch vụ việc làm Hà Nội cho biết, chương trình hội chợ việc làm dành cho lao động xuất khẩu về nước đang có khoảng 19 doanh nghiệp tham gia với khoảng 1.000 chỉ tiêu tuyển dụng. 

hang nghin viec lam luong hap dan danh cho lao dong xuat khau ve nuoc
Nhiều vị trí có mức lương khởi điểm từ 8 - 15 triệu đồng/tháng và chế độ đãi ngộ hấp dẫn

Hội chợ việc làm dành cho người lao động đi làm việc tại Hàn Quốc theo chương trình EPS và thực tập sinh theo chương trình IM Japan về nước sẽ được tổ chức tại Trung tâm dịch vụ việc làm Hà Nội vào sáng 22-11. Đây là hoạt động do Trung tâm Lao động ngoài nước (Bộ LĐ-TB&XH) kết hợp với Văn phòng HRD tại Việt Nam, Văn phòng IM Japan tại Việt Nam, Sở LĐ-TB&XH Hà Nội tổ chức.

Theo Ban tổ chức, chương trình hiện có 19 doanh nghiệp đăng ký tham dự, gồm: Doanh nghiệp có vốn đầu tư của Hàn Quốc, Nhật Bản tại Hà Nội và các tỉnh lân cận.

Tổng số chỉ tiêu tuyển dụng tới nay đã tới gần 1.000 vị trí. Các công việc có nhiều chỉ tiêu tuyển dụng bao gồm: phiên dịch tiếng Hàn, phiên dịch tiếng Nhật, quản lý sản xuất, công nhân kỹ thuật… Nhiều vị trí có mức lương khởi điểm từ 8 - 15 triệu đồng/tháng và chế độ đãi ngộ hấp dẫn.

Các công ty đăng ký tham gia chương trình đều ưu tiên tuyển người lao động đã từng làm việc tại Hàn Quốc và Nhật Bản về nước, có kỹ năng làm việc công nghiệp, am hiểu tiếng Nhật hoặc Hàn Quốc.

Dự kiến, số lượng doanh nghiệp tham gia chương trình sẽ tiếp tục tăng đến sát ngày tổ chức hội chợ việc làm. Người lao động có thể đăng ký dự chương trình theo 2 cách: Cách 1 đăng ký trực tiếp tại Trung tâm Dịch vụ việc làm Hà Nội - Số 215 Trung Kính, phường Yên Hòa, Cầu Giấy, Hà Nội. Cách 2, đăng ký qua trang thông tin điện tử của Trung tâm Lao động ngoài nước: www.colab.gov.vn , tại mục “Đăng ký tìm việc trong nước”.

Nguồn: anninhthudo.vn

Giá đúng cho lao động giá rẻ

13:58 |
Chiến lược lao động giá rẻ để thu hút FDI của Việt Nam còn hiệu quả trong thời đại công nghiệp 4.0?

Đã 5 giờ chiều, giờ tan tầm, nhà máy Samsung Electronics Việt Nam (SEV) Bắc Ninh ở Khu công nghiệp Yên Phong chỉ như được khuấy động rất nhẹ. Cách vài phút, từng chiếc xe buýt mới chầm chậm bò qua vào những cánh cổng, lác đác đây đó có chiếc xe máy vụt ra từ bãi xe. Hầu hết công nhân trong nhà máy thu hút nhiều lao động nhất Việt Nam này đều ở lại tăng ca để nhận mức lương cao hơn gấp đôi lương cơ bản do Nhà nước quy định và cao gấp rưỡi mặt bằng chung ở miền đất phía Bắc này trước khi tập đoàn điện tử Samsung xuất hiện.

Trong số các công nhân tại đây có Nguyễn Thị Hải, 25 tuổi xuất hiện trên báo chí như một "điển hình" của lao động tại Samsung. Sau khi tốt nghiệp cấp 3, Hải phải tạm gác giấc mơ đại học vì hoàn cảnh gia đình khó khăn. Cô thi tuyển vào nhà máy điện tử Samsung với vị trí nhân viên sản xuất đứng máy ở dây chuyền lắp ráp, với mong muốn có công việc ổn định để giúp đỡ gia đình. Từ đây, tương lai của cô mở ra khi tự nâng trình độ của bản thân...

Dưới đáy đường cong nụ cười

Còn rất nhiều cô gái cũng có nguyện vọng như Hải trở thành một trong hàng chục ngàn công nhân tại SEV. Ở cửa bảo vệ SEV, những cô gái trẻ trung ở độ tuổi mười tám đôi mươi xếp hàng dài, tấp nập nộp hồ sơ. Công việc tại nhà máy Samsung chủ yếu là lắp ráp, vì vậy chỉ yêu cầu lao động trình độ phổ thông. Nhiều trường hợp sinh viên tốt nghiệp phải giấu bằng đại học để có thể được làm việc ở đây. Mức thu nhập hấp dẫn cũng kéo nhiều người ra khỏi ngưỡng cửa giáo dục cao hơn.

Thái Nguyên cung cấp 18.000 lao động, tương đương 1/4 lao động cho nhà máy Samsung. Điều này dẫn đến tình trạng thiếu hụt trong các lĩnh vực khác, ngay cả trường đại học. Samsung là một đại diện cho lĩnh vực FDI ngày càng mạnh ở Việt Nam, thu hút nhiều lao động nhất trong 5 năm qua, với tốc độ tăng trưởng vượt xa khu vực tư nhân và nhà nước.

gia dung cho lao dong gia re
Công nhân nhà máy Samsung Bắc Ninh

Một lý thuyết phổ biến của Đại học Harvard chia các giai đoạn phát triển thành 3 giai đoạn. Giai đoạn đầu dựa trên các yếu tố tự nhiên là tài nguyên thiên nhiên và lao động giá rẻ dồi dào. Giai đoạn thứ hai dựa vào đầu tư ở các ngành sản xuất và dịch vụ để xuất khẩu, lương có tăng hơn nhưng dễ bị tổn thương bởi các cú sốc từ biến động trên thị trường thế giới. Giai đoạn phát triển thứ ba là dựa trên nền tảng sáng tạo, các sản phẩm dịch vụ mới mang tính đột phá và sáng tạo là nguồn lực chính của nền kinh tế.

Tiến sĩ Nguyễn Quang Trung, Khoa Quản trị Đại học RMIT Việt Nam, nhận định kinh tế Việt Nam đang ở thời gian đầu của giai đoạn hai, nghĩa là giai đoạn phát triển dựa vào đầu tư các lĩnh vực sản xuất phục vụ xuất khẩu và độ mở của nền kinh tế rất cao. Tuy nhiên, Việt Nam chỉ mới tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu ở phần giá trị thấp nhất, phần đáy của đường cong nụ cười, chứ chưa tham gia sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu.

Khi Trung Quốc quyết định dịch chuyển trên đường cong nụ cười qua giai đoạn sáng tạo, chi phí lao động theo đó cũng tăng lên đã khiến các doanh nghiệp như Samsung di chuyển đại bản doanh gia công của họ qua nơi có chi phí thấp hơn là Việt Nam. Cuộc di dời này kéo theo rất nhiều nhà cung cấp của họ vì "giá nhân công Việt Nam rẻ hơn ở Trung Quốc và Hàn Quốc", Giám đốc Choi Woon Chul của KSD Vina, một công ty sản xuất linh kiện cho Samsung cho biết.

Với quy mô dân số gần 100 triệu người, Việt Nam là một thị trường hấp dẫn trong mắt các nhà đầu tư nước ngoài cả về nguồn cung lao động. Đây là lực hút các doanh nghiệp FDI lắp ráp cần rất nhiều nhân lực, nơi tiền lương chỉ chiếm 10-15% tổng chi phí.

Tuy nhiên, tốc độ tăng lương cao ở Việt Nam đang là mối bận tâm lớn cho các doanh nghiệp FDI này. So sánh với Trung Quốc, lương cơ bản ở Việt Nam được quy định tăng nhanh hơn đến 3 điểm phần trăm, lên đến 6-7% mỗi năm (tương ứng với mức lạm phát). Điều này làm dấy lên một nỗi sợ khi Việt Nam đánh mất lợi thế lao động giá rẻ, các nhà máy lắp ráp như Samsung có thể di chuyển lần nữa qua những nơi chi phí thấp hơn, có thể là Triều Tiên, theo như một bài bình luận trên Bloomberg.

Từ nhiều năm trước, lao động giản đơn tỏ ra là một lợi thế của Việt Nam trong việc thu hút đầu tư nước ngoài cả cho lợi ích phát triển kinh tế lẫn công nghệ. Tuy nhiên, đây không phải là một lợi thế có thể áp dụng về lâu dài. Trên thực tế, khi nói đến lao động giản đơn, chúng ta cũng đang đề cập đến mức thu nhập bình quân đầu người thấp. "Đây không phải là mục tiêu mà một nền kinh tế muốn nhắm đến", ông Simon Matthews, Tổng Giám đốc ManpowerGroup Việt Nam, Thái Lan và Trung Đông bình luận với NCĐT.

Báo cáo chỉ số lực lượng lao động của ManpowerGroup  cho thấy lực lượng lao động không có kỹ năng, tay nghề chuyên môn ở Việt Nam chiếm đến 40% tổng lực lượng lao động quốc gia - hiện có khoảng 57 triệu người, gấp 4 lần tỉ lệ này ở quốc gia láng giềng Thái Lan. Thiếu kỹ năng và tác phong làm việc chuyên nghiệp, các lao động này thường không có cam kết lâu dài và dễ nhảy việc khi có cơ hội tốt hơn.

Hành trình nâng giá trị

Nhóm 4 công ty con của Samsung Electronics tại Việt Nam đạt tổng lợi nhuận lên đến 132.000 tỉ đồng (5,8 tỉ USD) trong năm 2017 - tức mỗi tháng đều đặn lãi 11.000 tỉ đồng. Lãi của Samsung bằng tổng lợi nhuận của 40 doanh nghiệp niêm yết lớn nhất của Việt Nam.

Tuy nhiên, chỉ gần 7% giá trị xuất khẩu của khối doanh nghiệp FDI trong đó có Samsung, tương đương 8,6 tỉ USD, là tổng phí gia công các doanh nghiệp Việt Nam thu được từ hoạt động nhận gia công, lắp ráp cho hàng hóa nước ngoài năm 2016. Hàm lượng giá trị gia tăng trong các sản phẩm xuất khẩu còn thấp, Tiến sĩ Trung lưu ý, nghĩa là chủ yếu còn dựa vào giá lao động tương đối rẻ. Dệt may, giày dép và điện thoại là ba nhóm hàng chiếm tỉ trọng lớn nhất.

Xuất khẩu lao động tại chỗ đã vậy, bức tranh xuất khẩu lao động nước ngoài cũng không mấy sáng sủa hơn. Trong số nửa triệu người Việt đang xuất khẩu đi khắp thế giới, phần lớn là những người trẻ từ nông thôn với kỹ năng thấp, làm việc trong khu vực sản xuất, xây dựng, nông nghiệp và những ngành dịch vụ khác. Mười ngàn công nhân khác được đóng gói theo những công trình xây dựng khắp Đông Nam Á.

gia dung cho lao dong gia re
Sản xuất cảm biến ở Công ty Pepperl+Fuchs KCX Tân Thuận.

Đặc biệt cần lưu ý lao động giản đơn làm trong những những ngành thâm dụng lao động như dệt may, da giày, lắp ráp điện tử, chế biến thủy hải sản..., sẽ có nguy cơ bị thay thế bởi việc tự động hóa và trí tuệ nhân tạo trong cách mạng công nghiệp 4.0, ông Matthews nhấn mạnh. Vì vậy, hiện tại, lực lượng lao động giản đơn ở Việt Nam cần tận dụng thời cơ hội nhập để học hỏi tri thức và công nghệ từ bạn bè quốc tế và nâng tầm giá trị bản thân, nâng cao năng suất lao động, góp phần phát triển kinh tế đất nước.

Sau tuổi trẻ được bán đi cho những hoạt động lắp ráp giản đơn đòi hỏi sự nhanh nhạy tinh thông, người lao động rời những nhà máy ở độ tuổi ngoài 30. Với kỹ năng và trình độ học vấn thấp, những lao động này lại cần thêm một nguồn lực xã hội nữa để đào tạo tay nghề.

Sau 3 năm vừa làm vừa học, Nguyễn Thị Hải tốt nghiệp khóa học cao đẳng nội bộ, đủ điều kiện để thi nâng tay nghề, thay đổi bộ phận làm việc từ khối sản xuất lên khối văn phòng. Thậm chí, Hải tiếp tục theo học hệ liên thông đại học tại Đại học công nghiệp Hà Nội. Cứ hết ca làm, cô lại theo xe đưa đón công nhân miễn phí của nhà máy từ Bắc Ninh tới Trường Đại học Công nghiệp Hà Nội.

Hành trình đi lên của Hải cũng như hành trình của ngành công nghiệp sản xuất Việt Nam, đi từ lao động phổ thông lên lao động có trình độ. Tất nhiên, trong đó đòi hỏi phải có những cố gắng, thậm chí vật vã để lột xác từ một lao động lắp ráp, sang một lao động làm các công việc có chất xám và sáng tạo. Theo Diễn đàn CEO 2018, năng suất lao động của Việt Nam năm 2016 chỉ bằng 7% mức năng suất của Singapore, 17,6% của Malaysia, 36,5% của Thái Lan...

Tính ra, năng suất lao động Việt Nam chỉ bằng hơn 50% của nhóm nước trung bình thấp và bằng 13,8% nhóm các nước trung bình cao. Theo Tiến sĩ Nguyễn Bích Lâm, Tổng cục trưởng Tổng cục Thống kê, năng suất lao động thấp là do cơ cấu kinh tế chậm chuyển dịch; lao động trong nông nghiệp chiếm tỉ lệ cao; máy móc, thiết bị và quy trình công nghệ lạc hậu; chất lượng, cơ cấu và hiệu quả sử dụng lao động chưa đáp ứng yêu cầu.

Ngoài ra, tỉ lệ lao động qua đào tạo chiếm khoảng 56% lực lượng lao động, nhưng thực tế, tỉ lệ lao động qua đào tạo bài bản chỉ đạt 22%, số còn lại đào tạo theo kiểu truyền nghề đủ kỹ năng để người lao động đứng vào dây chuyền sản xuất giản đơn. Chưa nói tới chất lượng đào tạo, chỉ cần nói tới số lượng lao động chưa được đào tạo cũng đã giải thích lý do vì sao năng suất lao động của Việt Nam thuộc loại thấp nhất khu vực...

Nguồn: nld.com.vn

Giải bài toán tăng năng suất lao động

13:54 |
Năng suất lao động của người lao động (NLĐ) Việt Nam là vấn đề được mổ xẻ nhiều trên nhiều diễn đàn. Trong đó, đa số các ý kiến đều cho rằng năng suất lao động Việt Nam thấp so với khu vực do tay nghề yếu, chưa có tư duy sắp xếp công việc so với khu vực mà bỏ qua nhiều yếu tố khách quan. Nhiều ngành nghề tại Việt Nam chưa thành hình được chuỗi cung ứng đầy đủ, nguyên liệu sản xuất ở nhiều ngành nghề vẫn phải nhập khẩu từ các nước láng giềng.

Theo các chuyên gia lao động, đáng lo hơn cả là hầu hết công nhân Việt Nam đều bước vào nhà máy trong tư thế "chưa biết gì về công việc". Điều này buộc các doanh nghiệp (DN) phải mất rất nhiều thời gian, tiền của để đào tạo nghề cho NLĐ. Với đội ngũ lao động đã có bằng cấp hay chứng chỉ nghề, công tác đào tạo của nhà trường hiện nay vẫn chưa gắn với thực tiễn, còn nặng về lý thuyết khiến sinh viên sau khi tốt nghiệp chưa thể làm được ngay. Cùng với đó nhiều nguyên nhân khác như công cụ hỗ trợ để tăng năng suất còn lạc hậu; DN chưa tạo được môi trường làm việc và cơ chế thu hút nhân tài, chế độ lương thưởng chưa bảo đảm đời sống NLĐ không khuyến khích họ làm việc.

giai bai toan tang nang suat lao dong
Ảnh minh họa

Chia sẻ các giải pháp về vấn đề nâng cao năng suất lao động, bà Trần Quý Dân, Chủ tịch Công đoàn (CĐ) Tổng Công ty May 10, cho biết trước hết là CĐ phải làm tốt công tác tuyên truyền giáo dục NLĐ thấu hiểu các khó khăn, giúp họ thấy được trách nhiệm trong việc nâng cao năng suất lao động, chất lượng công việc, đồng thời nâng cao trình độ quản lý, khả năng tổ chức sản xuất và đầu tư công nghệ. Bà cho rằng kiến thức, kỹ năng nghề của lao động Việt Nam không yếu, nhưng thiếu tự tin vào năng lực bản thân. Do đó giúp NLĐ tự tin phát huy năng lực là trách nhiệm của DN. "Tại Tổng Công ty May 10, mỗi khi áp dụng một công nghệ sản xuất mới, công ty đều thông báo rộng rãi đến NLĐ và vận động họ đăng ký tham gia thử nghiệm sử dụng công nghệ mới. Những lao động này sẽ được huấn luyện để sử dụng máy móc mới trong thời gian nhất định. Cùng với đó là DN có chính sách khen thưởng thích đáng cho những công nhân đạt yêu cầu. Kết quả là đã thúc đẩy được nhiều công nhân chấp nhận thử thách và chính họ sẽ trở thành đội ngũ lao động nòng cốt, hướng dẫn và tạo động lực cho những công nhân khác. Điều đó cho thấy, NLĐ Việt Nam giỏi, chỉ cần đào tạo họ đúng cách và cho họ cơ hội phát triển bản thân thay vì cưỡng ép theo định mức nhất định nào đó" - bà Dân khẳng định.

Để cải thiện năng suất lao động, theo các chuyên gia trong lĩnh vực lao động việc làm, Việt Nam cần tập trung đầu tư vào 3 yếu tố: vốn, khoa học - công nghệ và con người. Trong đó, quan trọng nhất, để phát triển kinh tế một cách bền vững và bảo đảm bắt kịp các nước đã phát triển thì Việt Nam cần tập trung hơn nữa vào thúc đẩy tăng năng suất thông qua phát triển khoa học, công nghệ, kỹ thuật. "Trong việc thúc đẩy năng lực của NLĐ, bản thân DN cần chú trọng đến việc xây dựng môi trường làm việc để NLĐ chủ động nâng cao năng suất, từng bước cải thiện năng suất lao động của DN qua từng năm. Bên cạnh đó, DN cần có cơ chế khuyến khích, khen thưởng để tạo động lực cho NLĐ làm việc" - ông Lê Đình Quảng, Phó Ban Quan hệ lao động, Tổng LĐLĐ Việt Nam, bày tỏ.

Nguồn: nld.com.vn

Đà Nẵng: Nâng tỉ lệ lao động qua đào tạo nghề lên 51% cuối năm 2018

11:36 |
Chủ động trong việc thực hiện các giải pháp để tuyển sinh học nghề theo đơn đặt hàng của doanh nghiệp, 9 tháng đầu năm 2018, TP. Đà Nẵng đã tuyển sinh mới 39.445 người học nghề, đạt 74,4% kế hoạch, tăng 13,2% so với cùng kỳ năm 2017.

da nang, nang ti le lao dong qua dao tao nghe len 51 cuoi nam 2018
Đăng ký học nghề tại Chợ việc làm và tư vấn học nghề do Trung tâm Giới thiệu việc làm Đà Nẵng tổ chức

Trong đó, tuyển sinh học nghề trình độ cao đẳng: 8.948 người, trung cấp: 1.997 người, sơ cấp và đào tạo  nghề dưới 3 tháng là 28.500 người. Cùng với công tác đào tạo nghề, báo cáo tình hình kinh tế - xã hội 9 tháng đầu năm 2018 của UBND TP. Đà Nẵng cũng cho biết, trong 9 tháng đầu năm 2018, các thành phần kinh tế trên địa bàn thành phố đã tạo việc làm cho hơn 27.450 lao động, đạt gần 84% kế hoạch, trong đó tạo việc làm tăng thêm cho 21.800 lao động, đạt 92% kế hoạch. Các ngành chức năng trên địa bàn thành phố cũng đã tổ chức 34 phiên giao dịch việc làm, giải quyết việc làm tại chỗ cho hơn 5.120 lao động. Công tác xuất khẩu lao động tiếp tục có nhiều chuyển biến tích cực. Theo đó, thành phố đã đưa 200 lao động đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài.

Tiếp tục triển khai hoạt động sàn giao dịch việc làm, giải quyết kịp thời những vướng mắc của người lao động; tổ chức tọa đàm quan hệ lao động với chủ đề “Đối thoại hiệu quả thúc đẩy quan hệ lao động ở Đà Nẵng”, TP. Đà Nẵng phấn đấu đến cuối năm 2018 sẽ nâng tỉ lệ lao động qua đào tạo nghề lên 51%. Hoàn thành việc xây dựng Đề án “Phát triển mạng lưới giáo dụcnghề nghiệp trên địa bàn thành phố Đà Nẵng đến năm 2025, tầm nhìn đến năm 2030” nhằm cung ứng nguồn lao động có trình độ, tay nghề, chất lượng cao cho các doanh nghiệp trên địa bàn thành phố và khu vực miền Trung – Tây Nguyên.

Nguồn: baodansinh.vn

Tháo gỡ khó khăn trong tạo việc làm cho lao động xuất khẩu trở về nước

16:06 |
Những năm gần đây, tỉnh Bắc Ninh đã có nhiều giải pháp nhằm phát huy thế mạnh của nguồn lao động đi xuất khẩu trở về nước sau khi hết thời hạn, đáp ứng nhu cầu phát triển tại các khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh. Tuy nhiên, việc kết nối cung - cầu giữa nguồn lao động và các cơ hội việc làm còn gặp nhiều khó khăn

Cung - cầu chưa "gặp" nhau

Sau 20 năm tái lập tỉnh (1997 - 2017), đến nay, Bắc Ninh có 16 khu công nghiệp tập trung được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt với tổng diện tích gần 6.400 ha; trong đó có 10 khu công nghiệp đã đi vào hoạt động, giải quyết việc làm cho hơn 282.000 lao động. Đây là cơ hội tốt cho các lao động xuất khẩu sau khi trở về nước với hàng nghìn cơ hội làm việc tại quê hương, đặc biệt tại các khu công nghiệp, các công ty, nhà máy có vốn đầu tư nước ngoài.

thao go kho khan trong tao viec lam cho lao dong xuat khau tro ve
Lao động xuất khẩu về nước phỏng vấn việc làm tại Trung tâm Dịch vụ Việc làm tỉnh Bắc Ninh.

Anh Nguyễn Văn Chuyết (xã Lạc Vệ, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh) đã từng làm việc tại Nhật Bản 4 năm. Sau khi hết hạn hợp đồng xuất khẩu lao động trở về nước, anh được tuyển vào làm việc tại Công ty Trách nhiệm hữu hạn Enshu Sanko Việt Nam, Khu công nghiệp VSIP (thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh). “Tại nơi làm việc mới, tôi được phát huy tay nghề cũng như những kinh nghiệm làm việc ở Nhật Bản. Nhờ đó, mức lương của tôi được trả khá tương xứng, đủ trang trải cuộc sống hàng ngày và có vốn tích lũy”, anh Chuyết cho biết.

Tuy nhiên, anh Chuyết là một trong số ít lao động xuất khẩu về nước may mắn tìm được việc làm, phát huy được khả năng chuyên môn và trình độ trong công việc. Hiện nay, nhiều lao động sau khi trở về nước vẫn chật vật tìm việc làm, thậm chí có người phải bỏ hẳn nghề, chuyển hướng sang đầu tư kinh doanh buôn bán vì nhiều nguyên nhân khác nhau.

Anh Trương Đức Toàn, quê ở huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh về nước sau khi làm việc tại Arập Xêút 3 năm. Trở về Việt Nam, với số vốn tích lũy được, anh Toàn quyết định mở cửa hàng ăn, phục vụ công nhân, cán bộ khu công nghiệp ở gần nhà. “Hiện nay, vị trí công việc của tôi tại các công ty, lương trung bình khoảng 8-10 triệu đồng/tháng, thấp hơn rất nhiều so với cùng vị trí và thời gian làm việc tại nước ngoài”, anh Toàn nói.

Tương tự anh Toàn, anh Đỗ Văn Phong, quê ở huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh cho biết, trước đây khi ở Nhật, công việc của anh là làm nông nghiệp với mức lương khoảng 22 triệu đồng/tháng. Về nước được gần một năm nay nhưng anh Phong vẫn chưa tìm được việc làm. “Tôi đã chủ động đến các cơ sở sản xuất nông nghiệp công nghệ cao, xuất khẩu nước ngoài xin việc song mức lương quá thấp, chỉ khoảng 5-6 triệu đồng/tháng. Chưa kể, tôi cũng quen với tác phong làm việc công nghiệp, hệ thống làm việc đồng bộ, được trả lương xứng đáng nên khi về nước tìm được một công việc phù hợp với khả năng rất khó”, anh Phong nói.

Tháo gỡ khó khăn, vướng mắc

Theo thống kê của Sở Lao động - Thương binh và Xã hội tỉnh Bắc Ninh, trong giai đoạn từ năm 2014 đến nay, Bắc Ninh có gần 7.700 lao động đi xuất khẩu lao động ở nước ngoài, chủ yếu tập trung tại Đài Loan (Trung Quốc), Nhật Bản, Hàn Quốc, Malaysia, Arập Xêút…; trong đó số lao động tập trung nhiều nhất tại thị trường Đài Loan (Trung Quốc) với khoảng 4.700 lao động.

Cũng vì tâm lý lo lắng không tìm được việc làm nên sau khi hết thời hạn hợp đồng nhiều lao động đã trốn ở lại nước sở tại, trở thành lao động bất hợp pháp. Hiện nay, Bắc Ninh vẫn còn lao động sau khi hết thời hạn ở lại cư trú bất hợp pháp tại Hàn Quốc, gây trở ngại cho việc quản lý, sử dụng lao động và chính sách xuất khẩu lao động giữa hai nước. Do đó, bên cạnh các biện pháp tuyên truyền, vận động, thậm chí xử phạt để người lao động về nước đúng thời hạn, các cơ quan chức năng cần có những giải pháp liên quan, tạo cơ hội việc làm để tái hòa nhập cho lao động xuất khẩu về nước.

Theo ông Bùi Ngọc Quang, Phó Giám đốc Sở Lao động - Thương binh và Xã hội tỉnh Bắc Ninh, lực lượng lao động xuất khẩu về nước có rất nhiều lợi thế khi xin việc như sử dụng ngoại ngữ thành thạo, được rèn luyện trong môi trường sản xuất công nghiệp, có ý thức tổ chức kỷ luật, tác phong cao. Đồng thời, đây cũng là lực lượng lao động trẻ, dễ có cơ hội tìm việc làm bởi mỗi năm các đơn vị ở tỉnh Bắc Ninh luân chuyển, tuyển mới khoảng 60.000 lao động.

Trong những năm qua, tỉnh Bắc Ninh đã chủ động triển khai nhiều giải pháp nhằm phát huy những thế mạnh của nguồn lao động có trình độ tay nghề. Mỗi năm, Sở Lao động - Thương binh và Xã hội tỉnh Bắc Ninh phối hợp với Trung tâm Dịch vụ việc làm tỉnh Bắc Ninh tổ chức 4 phiên giao dịch việc làm cho đối tượng lao động xuất khẩu về nước.

Trung bình, mỗi phiên giao dịch thu hút từ 300 - 400 lao động tham gia, trong đó 80% số người lao động tìm được việc làm. Tuy nhiên, số lao động được giải quyết việc làm vẫn chưa tương xứng với tiềm năng và tốc độ phát triển nhanh, nhu cầu lớn về lực lượng lao động trẻ có trình độ tay nghề của các khu công nghiệp, các công ty, tập đoàn nước ngoài tại tỉnh Bắc Ninh cũng như các tỉnh lân cận.

Để nâng cao chất lượng nguồn lao động, tỉnh Bắc Ninh đã tập trung công tác hỗ trợ, đào tạo nghề cho các đối tượng khác nhau, trong đó có lực lượng lao động nông thôn. Đồng thời, tỉnh đẩy mạnh công tác tuyên truyền, định hướng nghề nghiệp, kêu gọi các doanh nghiệp đến các sàn giao dịch việc làm tuyển dụng lao động.

Trong thời gian tới, Sở Lao động - Thương binh và Xã hội sẽ đề xuất, phối hợp với các cơ quan chức năng đẩy mạnh công tác kết nối lực lượng lao động sau khi hết hợp đồng làm việc có thời hạn ở nước ngoài trở về nước với các công ty, doanh nghiệp trên địa bàn nhằm giải quyết việc làm, phát huy năng lực của người lao động, góp phần vào phát triển kinh tế - xã hội chung của tỉnh Bắc Ninh, Phó Giám đốc Sở Lao động - Thương binh và Xã hội tỉnh Bắc Ninh Bùi Ngọc Quang khẳng định.

Nguồn: baotintuc.vn

Lao động IM Japan và EPS về nước tìm việc ở đâu?

09:50 |
Tham dự Hội chợ việc làm có các doanh nghiệp Hàn Quốc đóng trên địa bàn Hà Nội và các khu vực lân cận.

Nhằm mục đích hỗ trợ người lao động (NLĐ) về nước tìm kiếm được việc làm phù hợp, Trung tâm Lao động ngoài nước (Bộ LĐ-TB-XH) phối hợp với Văn phòng HRD tại Việt Nam, Văn phòng IM Japan tại Việt Nam, Sở LĐ-TB-XH, Trung tâm Dịch vụ việc làm Hà Nội tổ chức Hội chợ việc làm dành cho NLĐ EPS và thực tập sinh chương trình IM Japan đã về nước vào ngày 22-11-2018 tại Hà Nội.

Tham dự Hội chợ việc làm có các doanh nghiệp Hàn Quốc đóng trên địa bàn Hà Nội và các khu vực lân cận. Đây là cơ hội để NLĐ có thể tìm kiếm việc làm phù hợp với kinh nghiệm và trình độ tay nghề của mình, kế hoạch tổ chức cụ thể như sau:

lao dong im japan va eps ve nuoc tim viec o dau
Lao động EPS tìm việc tại một sàn giao dịch tại Hà Nội

Địa điểm tổ chức: Sàn giao dịch việc làm,Trung tâm dịch vụ việc làm Hà Nội, số 215 Trung Kính, Yên Hòa, Cầu Giấy, Hà Nội. Thời gian đăng ký từ ngày 11-10 đến ngày 22-11-2018.

NLĐ có thể đăng ký tham gia qua trang thông tin điện tử của Trung tâm Lao động ngoài nước: www.colab.gov.vn, tại mục "Đăng ký tìm việc trong nước". Đối với DN đăng ký qua trang thông tin điện tử của Trung tâm Lao động ngoài nước: www.colab.gov.vn, tại mục "Đăng ký tuyển dụng lao động".

Nếu cần tìm hiểu thêm thông tin, NLĐ và DN có liên hệ với Trung tâm Lao động ngoài nước - Phòng Hỗ trợ việc làm (điện thoại: 024.73030199) để được hướng dẫn chi tiết.

Nguồn: nld.com.vn

Quỹ quốc gia về việc làm mới đáp ứng khoảng 35% nhu cầu vay vốn tạo việc làm

14:33 |
Quỹ quốc gia về việc làm mới chỉ đáp ứng khoảng 35% nhu cầu vay vốn tạo việc làm. Trong khi đó, ngân sách Trung ương vẫn chưa bổ sung nguồn vốn cho Quỹ để cho lao động vay đi làm việc tại nước ngoài theo hợp đồng.

quy quoc gia ve viec lam moi dap ung khoang 35 phan tram nhu cau vay von tao viec lam
Quang cảnh hội nghị

Ngày 11/10, tại Hà Nội, Ngân hàng Chính sách Xã hội (NHCSXH) và Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội (LĐTBXH) đã tổ chức hội nghị đánh giá kết quả thực hiện hoạt động cho vay vốn từ Quỹ quốc gia về việc làm giai đoạn 2016-2018.

Theo ông Doãn Mậu Diệp, Thứ trưởng Bộ LĐTBXH, nhằm đẩy mạnh hỗ trợ việc làm cho người lao động, từ năm 1992, Quỹ quốc gia về giải quyết việc làm (nay là Quỹ quốc gia về việc làm) được thành lập theo Nghị quyết số 120/HĐBT để cho vay tín dụng ưu đãi đối với cơ sở sản xuất kinh doanh nhỏ, hộ gia đình. Từ năm 2016 đến nay, Quỹ quốc gia về việc làm được thực hiện theo quy định Luật Việc lam, Nghị định số 61/2015. Đến nay, nguồn vốn cho vay từ Quỹ quốc gia về việc làm đạt trên 4.497 tỷ đồng, giai đoạn 2016 đến 6/2018, doanh số cho vay hằng năm khoảng 2.500-3.000 tỷ đồng, hỗ trợ việc làm cho hơn 300.000 lao động.

Thống kê của NHCSXH, đến ngày 30/9/2018, nguồn vốn cho vay giải quyết việc làm đạt 14.560 tỷ đồng, tăng 7.631 tỷ đồng so với năm 2015 (trong đó, nguồn vốn từ Quỹ quốc gia giải quyết việc làm là 4.497 tỷ đồng, tăng 64 tỷ đồng so với năm 2015 từ số tiền lãi thu được bổ sung cho Quỹ; nguồn vốn của địa phương ủy thác sang NHCSXH để cho vay giải quyết việc làm là 6.285 tỷ đồng, tăng 3.789 tỷ đồng so với năm 2015, nguồn vốn do NHCSXH huy động để cho vay giải quyết việc làm là 3.778 tỷ đồng); Dư nợ cho vay giải quyết việc làm đạt 14.451 tỷ đồng, với gần 476.000 khách hàng còn dư nợ, dư nợ cho vay xuất khẩu lao động đạt 722 tỷ đồng, với trên 15.000 hộ vay còn dư nợ.

Giai đoạn 2016 đến ngày 30/9/2018, doanh số cho vay giải quyết việc làm đạt 15.477 tỷ đồng, doanh số cho vay xuất khẩu lao động đạt 746 tỷ đồng, qua đó giúp cho trên 535.000 lao động được tạo việc làm, giúp cho trên 11.000 lao động được vay vốn đi xuất khẩu lao động.

Ông Đào Anh Tuấn, Giám đốc Ban Tín dụng Học sinh sinh viên và các đối tượng chính sách khác (NHCSXH) cho biết: Trong thời gian qua, NHCSXH đã tích cực tổ chức triển khai thực hiện cho vay tạo việc làm và cho vay đối với người lao động đi làm việc ở nước ngoài từ Quỹ quốc gia về việc làm, tổ chức tốt việc thu hồi nợ, thu lãi tại NHCSXH nơi cho vay và tại các Điểm giao dịch tại xã theo định kỳ hàng tháng đối với tất cả các đối tượng vay vốn, nhờ đó nguồn vốn được thu hồi để cho các đối tượng vay vốn tiếp theo và nợ quá hạn không ngừng giảm thấp qua các năm. NHCSXH các cấp đã phối hợp chặt chẽ giữa các ngành, các cấp tại địa phương trong suốt quá trình quản lý cho vay vốn từ Quỹ quốc gia về việc làm.

Để tạo điều kiện cho các đối tượng vay vốn gặp rủi ro do thiên tai, dịch bệnh, khắc phục khó khăn, tiếp tục có vốn để sản xuất, NHCSXH đã thường xuyên phối hợp với chính quyền địa phương, tổ chức chính trị - xã hội nhận ủy thác thực hiện tốt công tác xử lý nợ bị rủi ro do nguyên nhân khách quan, đảm bảo việc xử lý nợ bị rủi ro chính xác, kịp thời, đồng thời bổ sung nguồn vốn tạo điều kiện để người vay tiếp tục đầu tư khôi phục sản xuất.

Nghị định số 61/2015 đã có sự phân cấp cho cấp cơ sở, theo đó Chủ tịch UBND cấp huyện nơi thực hiện dự án xem xét, phê duyệt đối với dự án thuộc nguồn vốn do UBND cấp tỉnh quản lý hoặc Thủ trưởng cơ quan cấp tỉnh của tổ chức thực hiện chương trình xem xét, phê duyệt đối với dự án thuộc nguồn vốn do tổ chức thực hiện chương trình quản lý. Do đó, các dự án có mức vay trên 100 triệu đồng đến 500 triệu đồng không phải trình Chủ tịch UBND cấp tỉnh hoặc Thủ trưởng Hội, đoàn thể Trung ương phê duyệt, việc đổi mới này đã góp phần rút gắn thời gian phê duyệt các dự án.

Các địa phươngcũng đã quan tâm, bố trí nguồn lực từ ngân sách địa phương và các nguồn vốn hợp pháp khác ủy thác sang NHCSXH để cho vay hỗ trợ tạo việc làm và cho vay đối với người lao động đi làm việc ở nước ngoài trên địa bàn. Đến nay, dư nợ cho vay giải quyết việc làm bằng nguồn vốn ủy thác của địa phương đạt trên 6.285 tỷ đồng, chiếm tỷ lệ 59% trên tổng dư nợ cho vay các chương trình tín dụng khác bằng nguồn vốn ủy thác của địa phương. Một số tỉnh, thành phố có nguồn vốn ủy thác sang NHCSXH để cho vay giải quyết việc làm tại địa phương lớn như: Hà Nội là 2.134 tỷ đồng; Bình Dương là 535 tỷ đồng; Thanh phố Hồ Chí Minh là 508 tỷ đồng; Bà Rịa - Vũng Tàu là 406 tỷ đồng; Đà Nẵng là 249 tỷ đồng; Vĩnh Phúc là 161 tỷ đồng.

Các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức thực hiện chương trình các cấp thường xuyên quan tâm, giám sát các hội viên, người lao động trong việc sử dụng vốn vay đúng mục đích, đốn đốc trả nợ, trả lãi đúng hạn…Thông qua hoạt động cho vay tổ chức Hội các cấp nắm bắt tới từng cơ sở, đã gắn kết hoạt động kinh tế với nhiệm vụ chính trị của tổ chức mình, đẩy mạnh các phong trào thi đua làm kinh tế giỏi.

Ông Doãn Mậu Diệp cho rằng: Bên cạnh kết quả đạt được, hoạt động cho vay vốn tạo việc làm từ Quỹ quốc gia về việc làm cũng đang gặp những khó khăn như: Chất lượng việc làm tạo ra chưa cao, hoạt động cho vay chủ yếu trong lĩnh vực nông nghiệp, đối tượng cho vay là các cơ sở sản xuất, kinh doanh thấp. Nguồn vốn cho vay của Quỹ còn hạn chế, mới chỉ đáp ứng 30-35% nhu cầu vốn tạo việc làm, duy trì và mở rộng việc làm. Thời gian tới, thị trường lao động ngày càng sôi động hơn đòi hỏi việc nâng cao hiệu quả và chất lượng tín dụng hỗ trợ của Nhà nước qua NHCSXH. Trong đó tăng cường nguồn vốn cho vay hỗ trợ tạo việc làm và đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng, tăng cường nguồn vốn ngân sách địa phương ủy thác cho vay hỗ trợ việc làm qua NHCSXH.

Còn ông Nguyễn Văn Lý, Phó Tổng Giám đốc NHCSXH cho biết: Để chương trình trong thời gian tới đạt hiệu quả cao hơn, NHCSXH đề nghị Chính phủ hàng năm tăng cấp bổ sung ngân sách Nhà nước, bổ sung nhiều nguồn lực của xã hội (trong nước và ngoài nước) cho Quỹ quốc gia về việc làm, do nhu cầu vay vốn tạo việc làm, duy trì và mở rộng việc làm. Bộ LĐTBXH nghiên cứu, tham mưu trình Chính phủ xem xét, điều chính lãi suất vay vốn từ Quỹ quốc gia về việc làm lên bằng lãi suất vay vốn đối với hộ cận nghèo theo từng thời kỳ do Thủ tướng Chính phủ quy định. Đồng thời, doanh nghiệp tuyển dụng người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng phải có tài khoản tại NHCSXH để người lao động nộp tiền tuyển dụng trả cho doanh nghiệp vào tài khoản mở tại NHCSXH; biện pháp mạnh để xử lý đối với doanh nghiệp không thực hiện đúng hợp đồng đã ký với với người lao động đi làm việc ở nước ngoài.

Nguồn: baotintuc.vn

Quảng Ngãi: 9 tháng đầu năm giải quyết việc làm cho 32 ngàn lao động

14:29 |
Đây là thông tin từ Hội nghị giao ban 9 tháng đầu năm của ngành LĐ-TB&XH và nhiệm vụ chủ yếu 3 tháng cuối năm 2018  vừa được tổ chức sáng nay.

Báo cáo từ sở LĐ-TB&XH cho biết: 9 tháng đầu năm, toàn tỉnh đã giải quyết tạo việc làm cho khoảng 32.000 lao động, ước đạt 80% kế hoạch năm; tỉ lệ thất ngiệp ở khu vực thành thị 3,6%; tỉ lệ sử dụng thời gian lao động ở nông thôn 86%; tỉ lệ lao động trong các ngành: Công nghiệp-Xây dựng 31%, Nông-Lâm-Ngư nghiệp 42%, Dịch vụ 27%.

Đã có 732 lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng, đạt 45,8% kế hoạch năm (trong đó số lao động xuất cảnh theo Quyết định số 71/2009/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ là 92 người); số lao động chờ xuất cảnh 119 lao động, số lao động đang tạo nguồn là 390 lao động. Trung tâm Dịch vụ việc làm của tỉnh đã tổ chức 26 phiên giao dịch việc làm. 

Ngành LĐ-TB&XH đã tham mưu cho UBND tỉnh phân khai nguồn vốn bổ sung Quỹ cho vay giải quyết việc làm tỉnh Quảng Ngãi năm 2018 với số tiền là 30 tỷ đồng để cho vay giải quyết việc làm. Tham mưu giao chỉ tiêu vận động lao động tham gia đi xuất khẩu lao động năm 2018 cho các huyện, thành phố và tiếp nhận 4.522 hồ sơ đề nghị hưởng trợ cấp thất nghiệp.

Phát biểu tại Hội nghị giao ban, ông Lương Kim Sơn-GĐ sở LĐ-TB&XH đánh giá: Tỷ lệ lao động qua đào tạo nghề so với tổng số lao động ước đạt 50,5%; số học sinh đang tham gia học nghề có đến 30/9/2018 là: 17.831 HSSV (đạt 77% KH). 

Ngoài ra, Sở đã phối hợp với Trường Cao đẳng Kỹ nghệ Dung Quất tổ chức Lễ ký kết đặt hàng đào tạo nghề, cung ứng nguồn nhân lực giữa Trường Cao đẳng Kỹ nghệ Dung Quất với Công ty Cổ phần Thép Hòa Phát Dung Quất và một số doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh. Tổ chức thành công Ngày Hội định hướng giáo dục nghề nghiệp - Tư vấn tuyển sinh năm 2018 tại các huyện Đức Phổ và Sơn Hà. 

quang ngai, 9 thang dau nam giai quyet viec lam cho 32 ngan lao dong
Ông Lương Kim Sơn (người đứng) phát biểu tại Hội nghị giao ban.

Hội nghị cũng nêu ra những phướng hướng và nhiệm 3 tháng cuối năm như: Tiếp tục tổ chức tập huấn tuyên truyền, phổ biến pháp Bộ Luật Lao động 2012, Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014 và các văn bản hướng dẫn có liên quan.

Tổ chức thực hiện có hiệu quả các chính sách hỗ trợ xuất khẩu lao động của Trung ương và địa phương, tập trung vào đối tượng hộ nghèo, hộ đồng bào dân tộc thiểu số, hướng đến các thị trường có việc làm ổn định và thu nhập cao như Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan.

Tiếp tục phát triển nguồn nhân lực qua đào tạo nghề đảm bảo về số lượng, chất lượng, cơ cấu trình độ, cơ cấu ngành, nghề đào tạo, đáp ứng nhu cầu nhân lực kỹ thuật trực tiếp của thị trường lao động trong tỉnh và hội nhập quốc tế; trong đó chú trọng đào tạo nguồn nhân lực có tay nghề cao thuộc các lĩnh vực, các ngành kinh tế mũi nhọn, công nghiệp hỗ trợ.

quang ngai, 9 thang dau nam giai quyet viec lam cho 32 ngan lao dong
Hội nghị giao ban 9 tháng đầu năm 2018.

Phối hợp với UBND các huyện, thành phố xây dựng Phương án cứu trợ, khắc phục hậu quả thiên tai xảy ra, bảo đảm ổn định đời sống nhân dân theo chức năng, nhiệm vụ của Ngành trong năm 2018.

Thực hiện đầy đủ, kịp thời các chế độ, chính sách trợ giúp cho 81.826 đối tượng hưởng trợ cấp bảo trợ xã hội hàng tháng tại cộng đồng. Tổ chức kiểm tra, giám sát triển khai thực hiện có hiệu quả các Đề án, Kế hoạch, chương trình về thực hiện chính sách xã hội cho đối tượng yếu thế, người cao tuổi.

Kiểm tra, giám sát, đôn đốc các địa phương tổ chức rà soát hộ nghèo, hộ cận nghèo năm 2018.    

Nguồn: baodanhsinh.vn

Hàng tỉ đồng đào tạo nhân lực các ngành nghề trọng điểm

10:04 |
Nhiều trường cao đẳng, trung cấp trên toàn quốc đang bắt đầu thí điểm đào tạo ngành nghề cấp quốc tế đáp ứng nhu cầu nhân lực trong và ngoài nước.

hang ti dong dao tao nhan luc cac nganh nghe trong diem

Không đủ người để cung ứng

Năm 2018, Bộ LĐ-TB-XH phê duyệt danh sách ngành, nghề trọng điểm ở các cấp độ đến năm 2020, tầm nhìn 2025 để tập trung đầu tư, đào tạo đáp ứng nhu cầu nhân lực. Trong đó, có 62 ngành, nghề cấp độ quốc tế; 93 ngành, nghề cấp độ khu vực ASEAN; 134 ngành, nghề cấp độ quốc gia.

Tiến sĩ Nguyễn Hồng Minh, Tổng cục trưởng Tổng cục Giáo dục nghề nghiệp, cho biết: “Các ngành, nghề được lựa chọn đều có nhu cầu nhân lực lớn, phù hợp với yêu cầu phát triển”.

Đặc biệt trong đó có những ngành, nghề phục vụ trực tiếp cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4 thuộc các lĩnh vực như: công nghệ thông tin, vật lý, sinh học; các ngành, nghề phục vụ nông nghiệp công nghệ cao và gắn với chuyển dịch lao động từ nông nghiệp sang phi nông nghiệp... Đồng thời còn có 8 nhóm lĩnh vực ngành, nghề được tự do di chuyển trong Cộng đồng kinh tế ASEAN gồm: nha khoa, điều dưỡng, kỹ thuật, xây dựng, kế toán, kiến trúc, khảo sát và du lịch cũng thuộc các ngành nghề được chú trọng đầu tư.

Bà Nguyễn Thị Lý, Hiệu trưởng Trường CĐ nghề Công nghệ Thủ Đức, nhìn nhận: “Hằng năm, doanh nghiệp đến trường đề nghị cung cấp sinh viên tốt nghiệp rất nhiều, nhất là những ngành nghề nằm trong danh mục trọng điểm ở các cấp độ. Một số ngành về điện, điện công nghiệp, cơ khí chế tạo máy, các công ty xuất khẩu lao động đến tuyển mà không đủ người để cung ứng”.

Theo số liệu từ Trung tâm dự báo nhân lực và thông tin thị trường lao động TP.HCM, riêng khu vực TP.HCM, 4 nhóm ngành công nghiệp trọng yếu bao gồm cơ khí, điện tử - công nghệ thông tin, chế biến lương thực thực phẩm, hóa chất - nhựa cao su, 9 ngành dịch vụ và nhiều nghề khác mỗi năm đã cần tới hàng trăm ngàn lao động.

Đầu tư hàng trăm tỉ để đạt chuẩn chất lượng

Tại Trường CĐ Nghề TP.HCM, thạc sĩ Hồng Thị Thanh Thủy, Phó hiệu trưởng, thông tin: “Trường đang đào tạo thí điểm 4 nghề quốc tế khóa đầu tiên theo chương trình của Úc, gồm điện tử công nghiệp, công nghệ thông tin, ứng dụng phần mềm, lắp đặt điện và điều khiển trong công nghiệp. Với chương trình trọng điểm này, người học sẽ có nhiều lợi thế về chuyên môn đáp ứng chuẩn quốc tế, trình độ tiếng Anh, các kỹ năng nghề nghiệp... Do vậy, khi tốt nghiệp các em không chỉ được các doanh nghiệp trong nước mà còn được các doanh nghiệp nước ngoài tại VN tuyển với mức lương cao”. Để đáp ứng được chất lượng đào tạo theo đúng chuẩn quốc tế, trường được nhà nước cấp kinh phí đầu tư mỗi nghề khoảng 1 - 2 tỉ đồng trên tổng số 15 sinh viên/nghề.

Trong khi đó, Trường CĐ Công nghệ Thủ Đức đang tiến hành khảo sát để đào tạo nghề điện công nghiệp cấp quốc tế, theo chương trình của Đức ở các ngành điện, cơ khí chế tạo máy (cấp khu vực) và cơ khí ô tô (cấp quốc gia).

Bà Nguyễn Thị Lý chia sẻ: “Học ngành trọng điểm quốc tế, người học sẽ có trình độ tiếng Anh tương đương TOEIC 350 và khi tốt nghiệp sẽ được nhận 2 bằng, một của VN và một của Đức. Chúng tôi đang lập đề án với mức kinh phí đầu tư dự kiến khoảng 221 tỉ cho 4 ngành trên để xây dựng cơ sở vật chất, mua sắm trang thiết bị. Đó là chưa kể kinh phí đầu tư vào chương trình đào tạo, chuẩn hóa giáo viên...”.

Nguồn: thanhnien.vn

Hà Tĩnh: Giải quyết việc làm cho hơn 13.000 lao động

13:25 |
Chiều 31/7, Sở LĐ-TB&XH Hà Tĩnh đã tổ chức hội nghị tổng kết 6 tháng đầu năm và triển khai các hoạt động 6 tháng tiếp theo.

ha-tinh-giai-quyet-viec-lam-cho-hon-13000-lao-dong
Hội nghị tổng kết 6 tháng đầu năm Sở LĐ-TB&XH Hà Tĩnh

 Theo đó, 6 tháng đầu năm 2018, tỉnh Hà Tĩnh đã giải quyết việc làm cho 13.405 người, đạt 59,57% kế hoạch, bằng 103,29% so với cùng kỳ năm 2017, trong đó, tạo việc làm trong nước 7.551 người, xuất khẩu lao động 5.854 người. Một số địa phương có số lượng người đi XKLĐ lớn như Nghi Xuân: 815 người, Cẩm Xuyên: 876 người, Kỳ Anh 849 người, Thạch Hà: 587 người.

Ngoài ra, 6 tháng đầu năm Hà Tĩnh đã chấp thuận phương án sử dụng lao động người nước ngoài cho 56 doanh nghiệp, nhà thầu; cấp, cấp lại giấy phép lao động cho 1.197 người nước ngoài và xác nhận 26 người nước ngoài không thuộc diện cấp phép; tổ chức kiểm tra việc thực hiện ủy quyền cấp giấy phép cho lao động nước ngoài tại KKT Vũng Áng; trình UBND tỉnh phê duyệt quỹ tiền lương, tiền thưởng đối với 5 doanh nghiệp; tư vấn pháp luật 110 trường hợp; thẩm định nội quy lao động 8 doanh nghiệp.

Tính đến cuối tháng 5/2018, Hà Tĩnh có 6.306 doanh nghiệp, chi nhánh, văn phòng đại diện, trong đó 4.676 DN đang hoạt động, sử dụng 80.263 lao động, lao động làm việc từ 3 tháng trở lên là 71.434 người, có 68.577 người được ký hợp đồng lao động, đạt 96%; 227 doanh nghiệp ký thỏa ước lao động, 228 doanh nghiệp xây dựng thang lương, bảng lương; hầu hết doanh nghiệp trả lương cho người lao động cao hơn mức lương tối thiểu vùng; thu nhập bình quân người lao động làm việc khối doanh nghiệp nhà nước: 5,1 triệu đồng, khối DN tư nhân: 4,3 triệu đồng, khối doanh nghiệp FDI: 8,1 triệu đồng.

Đặc biệt, thực hiện Quyết định số 12/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, Hà Tĩnh đã triển khai tốt các chính sách hỗ trợ đào tạo nghề, tạo việc làm, hỗ trợ đi làm việc nước ngoài cho người dân bị ảnh hưởng bởi sự cố môi trường biển...

Nguồn: baodansinh.vn

CPTPP: Cơ hội và thách thức với doanh nghiệp Việt

09:57 |
Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) vừa được ký kết tại Chile vừa tạo ra cơ hội mới nhưng cũng nhiều thách thức cho các doanh nghiệp Việt Nam.

cptpp co hoi va thach thuc voi doanh nghiep viet
CPTPP: Cơ hội và thách thức với doanh nghiệp Việt.

Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) vừa được ký kết tại Chile là sự kiện được nóng được sự quan tâm đông đảo doanh nghiệp và Hiệp hội ngành nghề. Với sự tham gia của 11 quốc gia xuyên hai bờ Thái Bình Dương với mức độ và phạm vi cam kết sâu rộng dẫn đến môi trường và điều kiện kinh doanh toàn cầu nói chung và các quốc quốc gia trong khối CPTPP nói riêng có nhiều thay đổi. Điều này vừa tạo ra cơ hội mới nhưng cũng nhiều thách thức cho các doanh nghiệp trong nước. 

Cơ hội xuất khẩu hàng hóa lớn 

Theo các chuyện gia, CPTPP được coi là một hiệp định thương mại tự do tiêu chuẩn cao, không chỉ đề cập tới các lĩnh vực truyền thống như cắt giảm thuế quan đối với hàng hóa, mở cửa thị trường dịch vụ, sở hữu trí tuệ, hàng rào kỹ thuật liên quan đến thương mại... mà còn xử lý những vấn đề mới, phi truyền thống như lao động, môi trường, mua sắm của Chính phủ, doanh nghiệp nhà nước… 

Ngoài ra, hiệp định này đặt ra các yêu cầu và tiêu chuẩn cao về minh bạch hóa cũng như đưa ra cơ chế giải quyết tranh chấp có tính ràng buộc và chặt chẽ. Riêng về mở cửa thị trường, các nước tham gia hiệp định đồng ý xóa bỏ cho nhau gần như toàn bộ thuế nhập khâu theo lộ trình, tự do hóa dịch vụ và đầu tư trên cơ sở tuân thủ pháp luật của nước sở tại, bảo đảm sự quản lý của nhà nước. Từ đó tạo ra cơ hội kinh doanh mới cho doanh nghiệp và lợi ích người tiêu dùng của các nước thành viên. 

Mặt khác, dù Hoa Kỳ không tham gia có ảnh hưởng lớn đến các nước thành viên nhưng đây vẫn được đánh giá là hiệp định chất lượng cao và có nhiều lợi thế cho Việt Nam. 

Theo ông Nguyễn Hoàng Dũng, Giám đốc nghiên cứu và phát triển Viện Nghiên cứu khoa học lãnh đạo và quản trị doanh nghiệp, việc tham gia CPTPP sẽ giúp Việt Nam tăng GDP thông qua thu hút đầu tư và thương mại với các quốc gia thành viên CPTPP; tăng tốc phát triển xuất khẩu, nhất là với các mặt hàng mà Việt Nam có thế mạnh như nông sản, dệt may, thực phẩm, đồ uống… sang các nước trong khối; phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao cũng như lao động phổ thông thông qua trao đổi và xuất khẩu lao động… Với việc tham gia sâu hơn vào các chuỗi giá trị thông qua hợp tác, liên kết với các doanh nghiệp trong khôi CPTPP, các thương hiệu Việt Nam cũng có cơ hội nâng tầm và vươn xa. 

Theo nhận định của Hiệp hội Dệt may Việt Nam, CPTPP sẽ giúp Việt Nam đẩy mạnh tăng trưởng xuất khẩu cũng như thay đổi cơ cấu thị trường xuất khẩu theo hướng cân bằng hơn. Chắc chắn CPTPP sẽ đem lại nhiều triển vọng khi dòng thuế suất bằng 0%, giúp ngành dệt may Việt Nam mở rộng thị phần tại một số nước đang có thuế suất cao như Canada, Newzeland, Australia… 

Cũng như dệt may, CPTPP là cơ hội để các doanh nghiệp xuất khẩu da giày tăng tỉ trọng, tăng cơ hội xuất khẩu sang các nước Chile, Australia, New Zealand, Mexico, Canada…Riêng Nhật Bản, một trong những thị trường chủ lực của ngành xuất khẩu da giày, túi xách Việt Nam với mức tăng trưởng trung bình 20-35%/năm, nếu doanh nghiệp biết tận dụng chặt chẽ các điều khoản từ CPTPP, mức tăng trưởng này sẽ còn cao hơn hiện tại. Hay Canada, áp thuế nhập khẩu 0% cho cả giày da và túi xách ngay lập tức mà không cần lộ trình cũng là cơ hội tốt để các doanh nghiệp Việt Nam tham gia sâu hơn vào thị trường này. 

Doanh nghiệp chủ động liên kết 

Theo quy định của CPTPP, mức thuế suất xuất nhập khẩu bình quân áp dụng cho các doanh nghiệp Việt Nam xuất khẩu sang các thị trường CPTPP sẽ giảm từ 1,7% xuống 0,2%. Tuy nhiên, điều đáng lo ngại là các doanh nghiệp nước ngoài sẽ nhanh chân hơn doanh nghiệp trong nước trong việc hưởng lợi từ các ưu đãi thuế quan từ CPTPP, khi họ có đủ tiềm lực để giải quyết các vấn đề mà doanh nghiệp Việt Nam đang gặp phải. 

Ở góc độ ngành gỗ, ông Nguyễn Tôn Quyền, Chủ tịch Hiệp hội Gỗ và Lâm sản Việt Nam, CPTPP sẽ mang tới cơ hội nhiều hơn thách thức cho ngành gỗ. Tuy nhiên, nhà nước cần có những cơ chế chính sách để cho khối doanh nghiệp nội tận dụng tốt thời cơ này. Hiện doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài chiếm hơn 42% kim ngạch xuất khẩu của ngành gỗ. Tuy nhiên, không thể cấm doanh nghiệp nước ngoài đầu tư vào Việt Nam. 

Để phát huy tối đa lợi thế thì chính sách thu hút doanh nghiệp nước ngoài cần thay đổi, quản lý ra sao để các doanh nghiệp ngoại đóng góp nhiều hơn cho mục tiêu phát triển bền vững của ngành, có trách nhiệm hơn đối với ngành, như xây dựng vùng nguyên liệu, đầu tư công nghệ cao…chứ không chỉ đơn thuần là mua nguyên liệu từ một nước, sau đó đưa vào Việt Nam để gia công rồi xuất đi để hưởng ưu đãi thuế quan. 

Còn theo chuyên gia kinh tế Trần Du Lịch, phải thừa nhận rằng doanh nghiệp nước ngoài có những thuận lợi hơn doanh nghiệp trong nước về trình độ quản trị, chuỗi phân phối toàn cầu, tài chính tốt… Tuy nhiên, cũng nên nhìn thẳng vào sự thật là tiềm lực của các doanh nghiệp trong nước còn rất yếu, liên kết với nhau rất kém.

Do vậy, để tận dụng cơ hội từ CPTPP, khối doanh nghiệp trong nước phải xây dựng chiến lược dài hạn, liên kết mới có thể giúp nhau tham gia vào chuỗi giá trị, trong đó doanh nghiệp lớn dẫn dắt các doanh nghiệp nhỏ vào chuỗi giá trị của mình. Nếu không sẽ mất cơ hội, trước khi các doanh nghiệp nước ngoài vào hưởng lợi tại Việt Nam. 

Theo Tiến sĩ Huỳnh Thanh Điền – Thành viên nhóm Tư vấn chính sách phát triển công nghiệp hỗ trợ Thành phố Hồ Chí Minh, để tận dụng được cơ hội CPTPP đòi hỏi doanh nghiệp phải nâng cao năng lực thâm nhập hàng hóa, phát triển kinh doanh ra bên ngoài bằng việc cải tiến công nghệ, quản lý chất lượng sản phẩm đạt tiêu chuẩn quốc tế với giá cả cạnh tranh, tích hợp vào chuỗi cung ứng toàn cầu; đồng thời phải nâng cao năng lực phòng vệ trước sự thâm nhập hàng hóa, sự cạnh tranh với các doanh nghiệp nước ngoài thông qua đẩy mạnh liên kết sản xuất, xây dựng mạng lưới phân phối nội địa vững chắc. 

Theo đó, doanh nghiệp cần chủ động nắm bắt các cơ hội và kiểm soát thách thức từ CPTPP, đòi hỏi doanh nghiệp phải nâng cao năng lực thâm nhập và phòng vệ. Để thực hiện được định hướng đó, cần đến sự nỗ lực của bản thân mỗi doanh nghiệp, sự liên kết chặt chẽ giữa doanh nghiệp nội địa thông qua vai trò của các hiệp hội ngành nghề, cũng như những nỗ lực tạo lập môi trường kinh doanh thuận lợi từ chính sách nhà nước, tăng cường thông tin chính sách giúp doanh nghiệp giảm thiểu các rủi ro từ chính sách pháp luật. 

Bên cạnh đó, các biện pháp bảo vệ doanh nghiệp nội địa cần trọng tâm vào việc tạo lập các “hàng rào kỹ thuật , kiểm soát chặt chẽ hoạt động của doanh nghiệp nước ngoài, không để doanh nghiệp nước ngoài có lợi thế tiếp cận nguồn lực kinh doanh nhiều hơn doanh nghiệp nội địa như trong thời gian qua.

Theo TTXVN

Nâng cao hiệu quả công tác đào tạo nghề cho lao động nông thôn

13:51 |
Được xác định là huyện nằm trong tứ giác và các trục tăng trưởng kinh tế của tỉnh, có khu công nghiệp, nông nghiệp công nghệ cao Lam Sơn – Sao Vàng, hệ thống đường giao thông thuận lợi cho việc kết nối, giao thương với các khu kinh tế động lực, các vùng, miền trong tỉnh và cả nước... Thọ Xuân đã và đang đẩy mạnh xúc tiến đầu tư, thu hút các chương trình, dự án vào địa bàn, dự báo sẽ thu hút nhiều lao động.

nang cao hieu qua cong tac dao tao nghe cho lao dong nong thon

Ông Nguyễn Xuân Hải, Trưởng Ban Tuyên giáo huyện Thọ Xuân, cho biết: Để phát huy tiềm năng, lợi thế, đòi hỏi phải nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Với lợi thế nguồn lao động dồi dào, người dân cần cù, siêng năng, không cam chịu đói nghèo lại có kinh nghiệm trong thâm canh làm nông nghiệp nhưng mới chủ yếu phát triển nông nghiệp. Việc tiếp cận khoa học – công nghệ còn khó khăn, người dân còn bỡ ngỡ trong việc đưa cơ giới hóa vào đồng ruộng; nền nông nghiệp phát triển theo hướng hàng hóa, phát triển vùng sản xuất chuyên canh còn hạn chế. Nhằm chuyển dịch một bộ phận lao động làm nông nghiệp sang các ngành nghề khác, phục vụ khu nông nghiệp công nghệ cao và các doanh nghiệp, Thọ Xuân xác định phải đột phá nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Vì vậy, cùng với đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao năng lực cho đội ngũ cán bộ, công chức, huyện quan tâm lực lượng lao động có tay nghề, kiến thức để bắt nhịp, tiếp cận khoa học – công nghệ. Theo ông Hải, cái khó bước đầu trong nâng cao chất lượng nguồn nhân lực là làm chuyển biến, thay đổi tư tưởng, nhận thức của nhân dân do họ ngại chuyển đổi, ngại học tập, trong khi lực lượng lao động lành nghề, qua đào tạo còn thấp; cơ sở đào tạo, bồi dưỡng, dạy nghề, chuyển giao kỹ thuật cho người lao động chưa đáp ứng nhu cầu đào tạo gắn với nhu cầu sử dụng nhân lực...

Với mục tiêu xây dựng nguồn nhân lực có cơ cấu, số lượng, chất lượng cao, từng bước đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội trong huyện và xu thế phát triển của xã hội; tạo ra lực lượng lao động có trình độ, kỹ năng, kỹ thuật, kỷ luật ngày càng cao, đáp ứng nhu cầu lao động cho các chương trình kinh tế - xã hội trọng tâm của huyện và cho doanh nghiệp, huyện đã đẩy mạnh đào tạo nghề cho lực lượng lao động trực tiếp sản xuất, nâng cao tay nghề, kỹ năng cho người lao động; công tác đào tạo, bồi dưỡng gắn với quy hoạch, nhu cầu sử dụng, lấy đào tạo nâng cao trình độ chuyên môn và đào tạo nghề làm khâu đột phá trong đào tạo phát triển nguồn nhân lực của địa phương. Phấn đấu đến năm 2020 tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt 75%, trong đó có 25% lao động qua đào tạo được cấp chứng chỉ trở lên.

Sau 5 năm thực hiện Chỉ thị số 19-CT/TW, ngày 5-11-2012 của Ban Bí thư Trung ương Đảng, công tác dạy nghề cho lao động nông thôn trên địa bàn tỉnh đã được gắn  với thực hiện các chỉ tiêu về giải quyết việc làm, giảm nghèo, xây dựng nông thôn mới và đã đạt nhiều kết quả quan trọng. Để trang bị kiến thức, kỹ năng nghề nghiệp, nâng cao tay nghề cho lao động nông thôn có điều kiện và khả năng làm việc ổn định, lâu dài ở các ngành nghề, đáp ứng thị trường lao động trong và ngoài nước, UBND tỉnh đã chỉ đạo các sở, ngành, UBND các huyện, thị xã, thành phố, các cơ sở dạy nghề rà soát nhu cầu học nghề, việc làm trên địa bàn; xây dựng kế hoạch đào tạo, gắn đào tạo nghề với quy hoạch phát triển sản xuất, quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội và quy hoạch xây dựng nông thôn mới. Sở Lao động - Thương binh và Xã hội đã tổ chức các lớp tập huấn nâng cao kỹ năng tuyên truyền, tư vấn dạy nghề, giới thiệu việc làm, xuất  khẩu lao động cho 1.145 lượt cán bộ cấp huyện, công chức cấp xã; tổ chức tư vấn học nghề, việc làm cho 43.250 lượt người lao động. Ngành giáo dục và đào tạo chỉ đạo các trung tâm giáo dục thường xuyên và dạy nghề mở 22.211 lớp với 757.203 lượt người học, tạo được việc làm mới sau học nghề cho 305.199 người.

Mạng lưới đào tạo nghề thường xuyên được củng cố, nâng cao chất lượng, cơ sở vật chất, kỹ thuật, đội ngũ giáo viên được tăng cường. Kết quả đào tạo nghề cho lao động nông thôn có nhiều tiến bộ. Chỉ tính trong năm 2017 hệ thống cơ sở giáo dục nghề nghiệp trên địa bàn tỉnh đã tuyển sinh đào tạo cho 74.460 người (đạt 102% kế hoạch), nâng tỷ lệ lao động qua đào tạo của tỉnh lên 61,7% (vượt 0,07% kế hoạch), trong đó tỷ lệ có văn bằng, chứng chỉ đạt 22,04% (vượt 0,04% kế hoạch). Hoạt động giáo dục nghề nghiệp cho các đối tượng đặc thù được thực hiện bảo đảm mục tiêu, đã tổ chức đào tạo nghề cho 7.440 lao động nông thôn (đạt 108,6% kế hoạch). Số lao động sau đào tạo có việc làm mới hoặc tiếp tục làm nghề cũ chiếm tỷ trọng lớn. Toàn tỉnh đã tạo việc làm mới cho 65.820 lao động (đạt 100,48% kế hoạch). Kết quả trên đã góp phần chuyển dịch cơ cấu lao động, giảm tỷ lệ thất nghiệp ở thành thị, thiếu việc làm ở khu vực nông thôn trên địa bàn tỉnh.

Nguồn: baothanhhoa.vn