Các chế độ về thôi việc cho người lao động khi công ty giải thể

15:15 |
Trường hợp người sử dụng lao động cho người lao động thôi việc vì lý do kinh tế thì phải trả trợ cấp mất việc làm cho người lao động.

Độc giả Nguyễn Thị Tâm (Ninh Bình): Hiện tôi đang công tác tại 1 công ty cổ phần, tôi đã làm tại công ty khoảng 7 năm và hợp đồng đang ký với công ty là không xác định thời hạn. Các loại bảo hiểm và thuế TNCN đều đóng đầy đủ. Nay công ty giải thể và chấm dứt hợp đồng. Theo quy định của nhà nước thì tôi sẽ có những chế độ nào ? Ai sẽ có trách nhiệm thực hiện chế độ đó?

  
Các chế độ về thôi việc cho người lao động khi công ty giải thể

Các chế độ về thôi việc cho người lao động khi công ty giải thể.

Trả lời:

Theo khoản 2 điều 44 bộ luật lao động (BLLĐ). Trường hợp người sử dụng lao động cho người lao động thôi việc vì lý do kinh tế thì phải trả trợ cấp mất việc làm cho người lao động theo quy định tại điều 49 BLLĐ:

“Điều 49. Trợ cấp mất việc làm

1. Người sử dụng lao động trả trợ cấp mất việc làm cho người lao động đã làm việc thường xuyên cho mình từ 12 tháng trở lên mà bị mất việc làm theo quy định tại Điều 44 và Điều 45 của Bộ luật này, mỗi năm làm việc trả 01 tháng tiền lương nhưng ít nhất phải bằng 02 tháng tiền lương.

2. Thời gian làm việc để tính trợ cấp mất việc làm là tổng thời gian người lao động đã làm việc thực tế cho người sử dụng lao động trừ đi thời gian người lao động đã tham gia bảo hiểm thất nghiệp theo quy định của Luật bảo hiểm xã hội và thời gian làm việc đã được người sử dụng lao động chi trả trợ cấp thôi việc.

3. Tiền lương để tính trợ cấp mất việc làm là tiền lương bình quân theo hợp đồng lao động của 06 tháng liền kề trước khi người lao động mất việc làm.”

Bạn đã làm việc tại công ty được 7 năm (tức là bắt đầu làm việc từ năm 2010), do đó bạn thuộc đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc bao gồm bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế và bảo hiểm thất nghiệp. Do đó bạn đã được tham gia bảo hiểm thất nghiệp đối với toàn bộ thời gian làm việc ở doanh nghiệp này kể từ năm 2010, trừ đi toàn bộ thời gian này thì người sử dụng lao động không phải trả trợ cấp mất việc làm cho bạn nữa mà bạn sẽ được hưởng trợ cấp thất nghiệp.

Tuy nhiên bạn cần lưu ý về thời hạn nộp hồ sơ hưởng trợ cấp thất nghiệp tại trung tâm dịch vụ việc làm theo quy định tại khoản 1 điều 46 Luật việc làm và đáp ứng điều kiện chưa tìm được việc làm sau 15 ngày, kể từ ngày nộp hồ sơ hưởng bảo hiểm thất nghiệp.

Trở lại vấn đề trách nhiệm của người sử dụng lao động trong trường hợp này, mặc dù không phải trả trợ cấp mất việc làm cho bạn nhưng, người sử dụng lao động vẫn phải thực hiện các trách nhiệm của mình theo quy định tại khoản 2, khoản 3 điều 47 BLLĐ như phải thanh toán đầy đủ các khoản có liên quan đến quyền lợi của mỗi bên trong thời hạn 07 ngày làm việc; trường hợp đặc biệt, có thể kéo dài nhưng không được quá 30 ngày – ở đây có thể là số tiền lương chưa được thanh toán trong những ngày bạn đã làm việc cho doanh nghiệp trước khi thôi việc; xác nhận và trả lại sổ bảo hiểm xã hội và những giấy tờ khác mà người sử dụng lao động đã giữ của bạn.

Nguồn: vietq.vn

Điều chỉnh lãi suất tính lãi chậm đóng, truy đóng BHXH, BHTN

17:02 |
BHXH TP HCM vừa có thông báo điều chỉnh lãi suất tính lãi chậm đóng, truy đóng BHXH, BHTN đến các đơn vị sử dụng lao động trên địa bàn TP.

Điều chỉnh lãi suất tính lãi chậm đóng, truy đóng BHXH, BHTN

Căn cứ tại Quyết định số 60l2Ol5/QD-TTg ngày 2717112015 của Thủ tướng Chính phủ quy định: Trường hợp chậm đóng BHYT từ 30 ngày trở lên, số tiền lãi phải thu bằng 2 lần lãi suất thị trường liên ngân hàng kỳ hạn 9 tháng do Ngân hàng Nhà nước (NHNN) Việt Nam công bố trên Cổng thông tin điện tử NHNN Việt Nam tính trên số tiền, thời gian chậm đóng. Trường hợp chậm đóng, trốn đóng, chiếm dụng BHXH, BHTN từ 30 ngày trở lên, số tiền lãi phải thu bằng 02 lần mức lãi suất đầu tư Quỹ BHXH, BHTN bình quân của năm liền kề tính trên số tiền, thời gian chậm đóng.

Căn cứ thông báo số 425/TB-BHXH ngày 14-2-2017 của BHXH Việt Nam thì lãi suất đầu tư Quỹ BHXH năm 2016 là 7.9%/năm, lãi suất thị trường liên ngân hàng kỳ hạn 9 tháng do NHNN Việt Nam công bố ngày 30-12-2016 là 5,8%/năm.

Điều chỉnh lãi suất tính lãi chậm đóng, truy đóng BHXH, BHTN

Do vậy, BHXH TP HCM thông báo đến các đơn vị sử dụng lao động trên địa bàn TP mức lãi suất áp dụng từ ngày 1-1-2017 như sau: Lãi suất tính lãi chậm đóng, truy đóng BHXH, BHTN là 1,317%/tháng; lãi suất tính lãi chậm đóng BHYT là 0,967%/tháng.

Nguồn: nld.com.vn

Tăng lương tối thiểu vùng 2017: Quan điểm của giới sử dụng lao động

17:07 |
Thị trường XKLĐ - Hội đồng tiền lương Quốc gia đang có chương trình khảo sát đánh giá về tác động của việc điều chỉnh lương tối thiểu để chuẩn bị cho phương án điều chỉnh mức lương tối thiểu vùng cho năm 2017. Nhân dịp này, DĐDN đã phỏng vấn ông Hoàng Quang Phòng – Phó Chủ tịch Hội đồng tiền lương Quốc gia, Phó Chủ tịch VCCI về sự chuẩn bị của VCCI trong việc đề nghị mức lương tối thiểu vùng 2017 của giới sử dụng lao động.

Tăng lương tối thiểu vùng 2017: Quan điểm của giới sử dụng lao động

Ông Hoàng Quang Phòng cho biết, theo số liệu thống kê từ bản tin thị trường lao động quý 4/2015 cho thấy thu nhập bình quân tháng từ việc làm chính của lao động làm công hưởng lương là 4.660.000 đồng/tháng. Số liệu này phản ánh là mức lương tối thiểu vùng của chúng ta hiện nay đang nằm trong khoảng cách bằng từ 40% – 60% thậm chí có vùng cao lương bình quân trên thị trường mà theo khuyến nghị của Tổ chức Lao động Quốc tế thì tiền lương tối thiểu bằng khoảng 40-60% tiền lương bình quân trên thị trường là phù hợp. Đây cũng là một căn cứ để chúng ta cân nhắc khi điều chỉnh mức lương tối thiểu vùng trong năm 2017.

– Với vai trò là đại diện cho giới sử dụng lao động, VCCI sẽ phối hợp cùng các bên trong Hội đồng tiền lương quốc gia như thế nào để chuẩn bị cho kế hoạch tăng lương tối thiếu vùng năm 2017, thưa ông?

Để chuẩn bị xây dựng phương án điều chỉnh mức lương tối thiểu vùng cho 2017, Hội đồng tiền lương Quốc gia thực hiện chương trình khảo sát đánh giá về tác động của việc điểu chỉnh lương tối thiểu vùng đến sản xuất kinh doanh và tiền lương của người lao động tại một số doanh nghiệp. VCCI cũng cử cán bộ tham gia đoàn khảo sát để nắm bắt được những thông tin cụ thể từ các DN, có cơ sở và căn cứ để chuẩn bị phương án điều chỉnh mức lương tối thiểu vùng cho năm 2017 của Tổ chức đại diện Người sử dụng lao động.

Bên cạnh đó VCCI cũng sẽ tích cực tham gia vào quá trình chuẩn bị các báo cáo kỹ thuật của Hội đồng tiền lương quốc gia như: Báo cáo phương pháp và kết quả xác định nhu cầu sống tối thiểu của người lao động, Báo cáo tình hình năng suất lao động trong doanh nghiệp

Theo tôi, đây là cơ sở dữ liệu rất quan trọng giúp các bên có thể xây dựng được phương án điều chỉnh mức lương tối thiểu vùng cho năm 2017 phù hợp với điều kiện thực tế, khả năng chi trả của doanh nghiệp và cải thiện đời sống cho người lao động.

– Được biết VCCI cũng đang tiến hành khảo sát cộng đồng doanh nghiệp để nắm bắt tình hình thực tế, làm cơ sở cho việc đưa ra mức lương tối thiểu vùng của các doanh nghiệp. Điều này có tác động thế nào tới việc chuẩn bị cho mức tăng lương tối thiểu mà VCCI đưa ra, thưa ông?

Đúng vậy! Cùng với việc tham gia đoàn khảo sát với Hội đồng tiền lương quốc gia, chúng tôi đang tiến hành một nghiên cứu độc lập về tác động của việc điều chỉnh lương tối thiểu vùng tới tình hình sản xuất, kinh doanh của nhóm các DNNVV.

Tại nghiên cứu này, VCCI tập trung đánh giá thực trạng triển khai quy định mức lương tối thiểu vùng năm 2016, điều chỉnh tiền lương cho người lao động năm 2016 và tác động của lương tối thiểu vùng 2016 đến hoạt động sản xuất, kinh doanh, chi phí tiền lương, bảo hiểm, chi phí sản xuất và hiệu quả kinh doanh 2016 tại nhóm DNNVV.

Tôi tin rằng, khảo sát này sẽ là cơ sở quan trọng để có thể đưa ra đánh giá thực tế và từ đó có căn cứ khoa học hơn để đưa ra một mức lương phù hợp.

– Thưa ông, năng suất lao động, tăng trưởng bình quân của nền kinh tế… là những cơ sở quan trọng để tính toán mức lương tối thiểu. Nhưng điều đó lại có những khác biệt giữa chủ sử dụng lao động và người lao động, thưa ông?

Tôi hiểu bài toán tăng lương tối thiểu cần phải phù hợp và thỏa mãn cả người sử dụng lao động, người lao động và những mục tiêu tổng thể của Nhà nước. Vì vậy, nghiên cứu của Hội đồng tiền lương quốc gia về tình hình năng suất lao động trong doanh nghiệp, cùng với đó là các nghiên cứu độc lập của các bên sẽ là những cơ sở dữ liệu quan trọng để giúp các thành viên Hội đồng chuẩn bị phương án điều chỉnh và thương thảo tại các phiên họp sắp tới của Hội đồng tiền lương quốc gia. Với sự chuẩn bị bài bản, kỹ lưỡng như vậy, tôi tin rằng năm nay chúng ta sẽ sớm có được sự đồng thuận của các bên trong câu chuyện lương tối thiểu vùng.

– Ở góc độ là Phó chủ tịch Hội đồng tiền lương quốc gia, đại diện cho giới sử dụng lao động, theo quan điểm của ông năm nay mức lương tối thiếu vùng sẽ ở mức nào để hài hòa quyền lợi các bên?

Trước hết, chúng ta phải hiểu rõ tiền lương hay nói cụ thể hơn là thu nhập và mức lương tối thiểu. Tiền lương bao gồm mức lương theo công việc hoặc chức danh, phụ cấp lương và các khoản bổ sung khác còn mức lương tối thiểu là mức thấp nhất mà người sử dụng lao động trả cho người lao động theo quy định của pháp luật. Nghĩa là khi Chính phủ điều chỉnh mức lương tối thiểu vùng thì các doanh nghiệp căn cứ vào đó để xây dựng mức lương trả cho người lao động.

Do đó theo kinh nghiệm của Tổ chức lao động Quốc tế (ILO), thông thường tiền lương tối thiểu bằng khoảng 40-60% tiền lương bình quân trên thị trường là phù hợp vì nếu để mức lương tối thiểu quá cao thì mức lương đó về bản chất không thực sự là tiền lương tối thiểu mà là tiền lương thực trả cho người lao động. Điều này sẽ gây tác động tiêu cực ngoài ý muốn của chính sách tiền lương tối thiểu như không thúc đẩy cơ chế thương lượng tập thể để thương thảo những nội dung có lợi hơn cho người lao động và hạn chế người lao động nâng cao tay nghề để tạo ra năng suất lao động cao hơn, thậm chí sẽ ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.

– Xin cảm ơn ông! 

Theo Diễn đàn Doanh nghiệp

Chế độ với người làm việc tại cơ sở điều trị nghiện ma túy

10:30 |
Thị trường XKLĐ - Chính phủ vừa ban hành Nghị định quy định chế độ trợ cấp, phụ cấp đối với công chức, viên chức và người lao động làm việc tại các cơ sở quản lý người nghiện ma túy, người sau cai nghiện ma túy và cơ sở trợ giúp xã hội công lập, trong đó quy định mức phụ cấp cao nhất là 70%.

Chế độ với người làm việc tại cơ sở điều trị nghiện ma túy

Cụ thể, Nghị định trên quy định, công chức, viên chức làm việc tại cơ sở quản lý người nghiện ma túy và người sau cai nghiện ma túy gồm: Cơ sở điều trị nghiện tự nguyện; cơ sở cai nghiện bắt buộc (cơ sở điều trị nghiện bắt buộc); cơ sở xã hội; cơ sở đa chức năng; cơ sở quản lý, dạy nghề và giải quyết việc làm cho người sau cai nghiện ma túy được hưởng trợ cấp đặc thù với mức tối thiểu bằng 500.000 đồng/người/tháng.

Phụ cấp tại cơ sở quản lý người nghiện

Phụ cấp ưu đãi theo nghề đối với công chức, viên chức làm việc tại các cơ sở quản lý người nghiện ma túy, người sau cai nghiện ma túy gồm 2 loại phụ cấp là: Phụ cấp ưu đãi y tế; phụ cấp ưu đãi giáo dục. 

Trong đó, mức phụ cấp ưu đãi y tế là 70% áp dụng đối với công chức, viên chức chuyên môn y tế trực tiếp khám, điều trị, chăm sóc, xét nghiệm cho người nghiện ma tuý bị bệnh HIV/AIDS.

Mức phụ cấp 50% áp dụng đối với công chức, viên chức trực tiếp làm chuyên môn y tế và người trực tiếp làm các công việc trông coi, bảo vệ, vận chuyển, phục vụ người nghiện ma tuý bị nhiễm HIV/AIDS tại các cơ sở ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn.

Mức phụ cấp 40% áp dụng đối với công chức, viên chức trực tiếp làm chuyên môn y tế và người trực tiếp làm các công việc trông coi, bảo vệ, vận chuyển, phục vụ người nghiện ma tuý bị nhiễm HIV/AIDS tại các cơ sở ở các vùng còn lại.

Mức phụ cấp 35% áp dụng đối với công chức, viên chức chuyên môn y tế và người trực tiếp phục vụ người nghiện ma tuý trong quá trình điều trị cắt cơn, giải độc cho người nghiện ma tuý tại các cơ sở ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn.

Còn mức phụ cấp 30% áp dụng đối với công chức, viên chức chuyên môn y tế và người trực tiếp phục vụ người nghiện ma tuý trong quá trình điều trị cắt cơn, giải độc cho người nghiện ma tuý tại các cơ sở ở các vùng còn lại.

Về phụ cấp ưu đãi giáo dục, mức phụ cấp 50% áp dụng đối với công chức, viên chức trực tiếp dạy văn hoá, giáo dục phục hồi hành vi, nhân cách và dạy nghề cho người nghiện ma tuý, người sau cai nghiện ma túy và người nhiễm HIV/AIDS tại các cơ sở ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn.

Mức phụ cấp 40% áp dụng đối với công chức, viên chức trực tiếp dạy văn hoá, giáo dục phục hồi hành vi, nhân cách và dạy nghề cho người nghiện ma tuý, người sau cai nghiện ma túy và người nhiễm HIV/AIDS tại các cơ sở ở các vùng còn lại.

Mức phụ cấp 25% áp dụng đối với công chức, viên chức làm công tác quản lý không trực tiếp làm chuyên môn y tế, dạy văn hóa, giáo dục phục hồi hành vi, nhân cách và dạy nghề tại các cơ sở ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn và mức phụ cấp 15% áp dụng đối với công chức, viên chức làm công tác này tại các cơ sở ở các vùng còn lại.

Phụ cấp với người làm việc tại các cơ sở trợ giúp xã hội

Nghị định cũng quy định, mức phụ cấp 70% áp dụng đối với công chức, viên chức thường xuyên, trực tiếp xét nghiệm, khám, điều trị, chăm sóc, nuôi dưỡng, trợ giúp người bệnh HIV/AIDS, phong, lao, tâm thần; người khuyết tật đặc biệt nặng.

Mức phụ cấp 60% áp dụng đối với công chức, viên chức thường xuyên, trực tiếp xét nghiệm, khám, điều trị, chăm sóc, nuôi dưỡng, trợ giúp cho người cao tuổi không tự phục vụ được, trẻ em dưới 4 tuổi.

Mức phụ cấp 50% áp dụng đối với công chức, viên chức thường xuyên, trực tiếp xét nghiệm, khám, điều trị, chăm sóc, nuôi dưỡng, trợ giúp người khuyết tật nặng.

Mức phụ cấp 40% áp dụng đối với công chức, viên chức thường xuyên, trực tiếp xét nghiệm, khám, điều trị, chăm sóc, nuôi dưỡng, trợ giúp trẻ em từ 4 tuổi trở lên, đối tượng cần bảo vệ khẩn cấp, người cao tuổi.

Mức phụ cấp 30% áp dụng đối với công chức, viên chức quản lý, phục vụ không trực tiếp xét nghiệm, khám, điều trị, chăm sóc, nuôi dưỡng, trợ giúp đối với người nhiễm HIV/AIDS, phong, lao, tâm thần; người khuyết tật nặng và đặc biệt nặng; người cao tuổi không tự phục vụ được, trẻ em dưới 4 tuổi.

Đối với công chức, viên chức không trực tiếp làm chuyên môn công tác xã hội và y tế; công chức, viên chức công tác xã hội và y tế làm công tác quản lý, phục vụ tại các cơ sở (trừ đối tượng được hưởng phụ cấp 30% ở trên) thì thủ trưởng đơn vị căn cứ vào đặc thù công việc và nguồn thu để xem xét, quyết định nhưng không vượt quá mức 20% so với mức lương ngạch, bậc hiện hưởng cộng phụ cấp chức vụ lãnh đạo, phụ cấp thâm niên vượt khung (nếu có) của đối tượng được hưởng.

Mức tiền phụ cấp ưu đãi theo nghề được hưởng = mức lương cơ sởx (hệ số lương ngạch, chức danh nghề nghiệp, bậc hiện hưởng + hệ số phụ cấp chức vụ lãnh đạo (nếu có) + % (quy theo hệ số) phụ cấp thâm niên vượt khung (nếu có)) x mức phụ cấp ưu đãi theo nghề được hưởng.

Mỗi công chức, viên chức chỉ được hưởng một loại phụ cấp ưu đãi theo nghề với mức phụ cấp ưu đãi cao nhất quy định tại Nghị định này. Công chức, viên chức thuộc đối tượng áp dụng của chính sách quy định tại Nghị định này, đồng thời thuộc đối tượng áp dụng của chính sách cùng loại quy định tại văn bản quy phạm pháp luật khác thì chỉ được hưởng một mức cao nhất của chính sách đó.

Theo Báo Chính phủ

Từ 1/7: Sa thải lao động trái phép sẽ phải ngồi tù

19:32 |
Thị trường XKLĐ - Đây là nội dung đáng chú ý được quy định tại Điều 162 Bộ luật Hình sự 2015 có hiệu lực kể từ ngày 01/7/2016.

Theo đó, người nào vì vụ lợi hoặc động cơ cá nhân khác mà thực hiện một trong các hành vi sau đây làm cho người bị thôi việc, người bị sa thải hoặc gia đình họ lâm vào tình trạng khó khăn hoặc dẫn đến đình công, thì bị phạt tiền từ 10 - 100 triệu đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 01 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 01 năm:

Từ 1/7: Sa thải lao động trái phép sẽ phải ngồi tù
Sa thải lao động có thể bị phạt tù.

- Sa thải trái pháp luật đối với người lao động.

- Ra quyết định buộc thôi việc trái pháp luật đối với công chức, viên chức.

- Cưỡng ép, đe dọa buộc người lao động, công chức, viên chức phải thôi việc.

Bị phạt tiền từ 100 - 200 triệu đồng hoặc phạt tù từ 01 năm đến 03 năm nếu phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây:

- Đối với 02 người trở lên.

- Đối với phụ nữ mà biết là có thai.

- Đối với người đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi.

- Làm người bị buộc thôi việc, người bị sa thải tự sát.

Đồng thời, người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ nhất định từ 01 năm đến 05 năm.

Như vậy, so với Điều 128 của Bộ luật Hình sự 1999  thì nội dung của Điều 162 Bộ luật Hình sự 2015  được quy định một cách chi tiết và rõ ràng hơn.

Theo Báo Nghệ An

Quyền lợi khi đóng BHXH chưa đủ năm

14:20 |
Thị trường XKLĐ - Một số lao động (quận 3, TP HCM) hỏi: “Chúng tôi từng làm việc tại các doanh nghiệp đóng trên địa bàn TP HCM. Do bị bệnh tật, tai nạn lao động… phải nghỉ việc khi tham gia BHXH chưa đủ 1 năm và không có điều kiện tham gia tiếp. Mới đây, chúng tôi nghe nói cơ quan BHXH sẽ chi trả BHXH một lần cho các trường hợp như chúng tôi. Tuy nhiên, khi liên hệ với BHXH các quận thì chưa được giải quyết...”.

Quyền lợi khi đóng BHXH chưa đủ năm

Ông Nguyễn Đăng Tiến, Phó Giám đốc BHXH TP HCM, trả lời: Hiện cơ quan BHXH đã thực hiện chi trả BHXH một lần cho trường hợp NLĐ sau 1 năm nghỉ việc, có thời gian đóng BHXH chưa đủ 1 năm nhưng không có điều kiện tiếp tục tham gia. Mức hưởng BHXH một lần bằng số tiền đã đóng, mức tối đa bằng 2 tháng bình quân tiền lương tháng đóng BHXH. NLĐ có thể liên hệ với cơ quan BHXH quận, huyện nơi tham gia BHXH để được giải quyết

Bình đẳng giới trong pháp luật và chính sách

22:51 |
Thị trường XKLĐ - Ngày 22/3, Bộ Lao động Thương binh Xã hội đã tổ chức hội thảo “Việt Nam hướng tới hội nhập quốc tế: Cơ hội và thách thức để lồng ghép bình đẳng giới trong pháp luật và chính sách hướng tới việc làm bền vững”.

Đây là hội thảo đánh giá tổng kết dự án “Lồng ghép bình đẳng giới trong pháp luật và chính sách hướng tới việc làm bền vững ở Việt Nam” giữa Bộ LĐTBXH và Cơ quan Hợp tác Phát triển Quốc tế Tây Ban Nha (AECID) thực hiệntừ năm 2012 đến 2016. Dự án đã hỗ trợ Chính phủ Việt Nam tăng cường lồng ghép bình đẳng giới và việc làm bền vững thông qua việc rà soát, nghiên cứu và thực thi các chương trình và chiến lược quốc gia trong lĩnh vực lao động và xã hội. 

Bình đẳng giới trong pháp luật và chính sách
Quang cảnh hội thảo

Dự án đóng góp tích cực và hiệu quả đối với việc lồng ghép bình đẳng giới trong quy trình xây dựng Luật Bảo hiểm Xã hội (2014) và Luật Giáo dục nghề nghiệp (2014) thông qua các nghiên cứu, đối thoại chính sách, hỗ trợ kỹ thuật và tham vấn các bên liên quan trong quá trình xây dựng các văn bản này. Dự án cũng thực hiện một số mô hình thí điểm áp dụng nguyên tắc việc làm bền vững và bình đẳng giới trong thực hiện chính sách trong lĩnh vực lao động, dạy nghề để rút ra các bài học kinh nghiệm phục vụ cho việc hoàn thiện chính sách.

Nổi bật trong vấn đề chính sách là Luật Bảo hiểm xã hội (BHXH) sửa đổi đã được Quốc hội thông qua vào ngày 20/11/2014 và sẽ có hiệu lực từ 1/1/2016. Nhiều chế độ, chính sách được hoàn thiện, mang lại lợi ích thiết thực cho người lao động như chế độ thai sản linh hoạt hơn. Luật BHXH sửa đổi có nhiều chính sách về chế độ thai sản cho LĐN, làm tăng sự bình đẳng giới giữa lao động nam và nữ so với trước kia.Luật BHXH sửa đổi đã điều chỉnh thời gian hưởng thai sản khi sinh con hoặc nhận con nuôi dưới 6 tháng tuổi. 

Theo đó, không chỉ người vợ được hưởng chế độ thai sản mà người chồng (lao động nam) cũng được hưởng chế độ thai sản 5 ngày (nếu vợ sinh thường); 7 ngày (nếu vợ sinh mổ - phẫu thuật hoặc sinh non dưới 32 tuần); 10 ngày (nếu vợ sinh đôi); 14 ngày (nếu vợ phẫu thuật sinh đôi). Trong trường hợp người vợ sinh 3 trở lên thì cứ thêm mỗi con, người chồng được nghỉ thêm 3 ngày. Điều này sẽ tạo điều kiện cho những đôi vợ chồng trẻ ở xa gia đình, đặc biệt là vợ chồng công nhân ở các khu công nghiệp. Quy định mới này được các tổ chức lao động quốc tế đánh giá cao.

Bào Đào Hồng Lan, Thứ trưởng Bộ LĐTBXH, đào tạo nghề hiện nay vẫn là khâu yếu. Các chương trình nghề chưa đáp ứng tốt nhu cầu của người sử dụng lao động. Khu vực phi chính thức, trong đó hộ cá thể; kể cả doanh nghiệp nhỏ và vừa trong khu vực chính thức, tiếp cận hạn chế các chương trình đào tạo nghề. Việc tiếp cận của nhóm phụ nữ, dân tộc thiểu số khó khăn hơn các nhóm khác. Do đó, trong thời gian tới tăng tính thị trường của hệ thống cung cấp dịch vụ công về đào tạo nghề, tăng tính cạnh tranh, cho phép và tạo điều kiện thuận lợi để khu vực tư nhân tham gia vào các chương trình nghề đang được tài trợ bởi ngân sách là một giải pháp cần được xem xét và cân nhắc.

Tiếp tục đề xuất nâng độ tuổi nghỉ hưu với lao động nữ

13:09 |
TTLĐ - Phát biểu tại Diễn đàn chính sách về bình đẳng giới diễn ra ngày 4-3, Bộ trưởng Bộ Lao động Thương binh và xã hội Phạm Thị Hải Chuyền cho biết sẽ tiếp tục xây dựng đề án đề xuất lao động nữ làm việc trong những điều kiện thuận lợi sẽ được nghỉ hưu bằng độ tuổi nam giới.

Tiếp tục đề xuất nâng độ tuổi nghỉ hưu với lao động nữ
Bộ LĐ-TB&XH tiếp tục đề xuất tăng tuổi nghỉ hưu cho lao động nữ. Ảnh internet.

Theo bà Phạm Thị Hải Chuyền, với trách nhiệm là cơ quan quản lý nhà nước về lao động, cũng như là cơ quan trình Bộ luật Lao động, trong đó có quy định về độ tuổi nghỉ hưu theo chế độ bảo hiểm, Bộ đã đề nghị phụ nữ phải có tuổi nghỉ hưu như nam giới, trừ những nhóm phụ nữ ở những hoàn cảnh cụ thể, đặc biệt thì có thể được quyền nghỉ hưu ở độ tuổi thấp hơn khoảng 5 tuổi. Đề xuất này hướng tới bình đẳng nam – nữ trong độ tuổi nghỉ hưu.
Trước mắt, với số nữ làm việc trong những điều kiện thuận lợi như ở cơ quan hành chính, sự nghiệp… Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội sẽ tiếp tục có đề án để trình. Theo đó, số lao động nữ này sẽ được nghỉ hưu bằng độ tuổi nam giới ở độ tuổi 60. Còn lại một số chị em nữ ở môi trường nặng nhọc, độc hại hoặc ở điều kiện khó khăn thì có nhu cầu nghỉ hưu sớm ở tuổi 55.
Trước đó, Chính phủ đã đề xuất lộ trình tăng tuổi nghỉ hưu đối với từng nhóm đối tượng song Ủy ban Về các vấn đề xã hội của Quốc hội, cơ quan thẩm tra dự án Luật Bảo hiểm xã hội (sửa đổi) đã không tán thành.

Theo Hải quan online

Lao động đi làm việc ở nước ngoài phải đóng BHXH

09:10 |
TTLĐ - Cục Quản lý lao động ngoài nước vừa ban hành Công văn số 2590/QLLĐNN-PCTH chỉ đạo và hướng dẫn các doanh nghiệp dịch vụ đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài thực hiện các quy định cụ thể liên quan đến bảo hiểm xã hội bắt buộc đối với người lao động đi xuất khẩu lao động theo hợp đồng.

Lao động đi làm việc ở nước ngoài phải đóng BHXH

Ảnh minh họa.

Theo Cục Quản lý lao động ngoài nước (Bộ LĐTB&XH), người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng sẽ tham gia BHXH bắt buộc được áp dụng đối với các hợp đồng như: Hợp đồng đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài với doanh nghiệp hoạt động dịch vụ, tổ chức sự nghiệp được phép đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài; hợp đồng đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài với doanh nghiệp trúng thầu, nhận thầu hoặc tổ chức, cá nhân đầu tư ra nước ngoài có đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài; hợp đồng đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài với doanh nghiệp trúng thầu, nhận thầu hoặc tổ chức, cá nhân đầu tư ra nước ngoài có đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài; hợp đồng đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hình thức thực tập nâng cao tay nghề với doanh nghiệp đưa người lao động đi làm việc theo hình thức thực tập nâng cao tay nghề; hợp đồng cá nhân.

Bên cạnh đó, người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo các hợp đồng quy định tại các Điểm a và d của Khoản 1 chỉ thực hiện chế độ hưu trí và tử tuất. Người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng quy định tại Điểm b của Khoản 1 thực hiện đầy đủ các chế độ BHXH bắt buộc.

Về mức đóng và phương thức đóng BHXH bắt buộc đối với người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng, gồm: Mức đóng hàng tháng vào quỹ hưu trí và tử tuất bằng 22% mức tiền lương tháng đóng BHXH của người lao động trước khi đi làm việc ở nước ngoài, đối với người lao động đã có quá trình tham gia BHXH bắt buộc; bằng 22% của 2 lần mức lương cơ sở đối với người lao động chưa tham gia BHXH bắt buộc, hoặc đã tham gia BHXH bắt buộc, nhưng đã hưởng BHXH một lần.

Phương thức đóng BHXH được thực hiện 3 tháng, 6 tháng, 12 tháng một lần, hoặc đóng trước một lần theo thời hạn ghi trong hợp đồng đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài. Người lao động đóng trực tiếp cho cơ quan BHXH nơi cư trú của người lao động trước khi đi làm việc ở nước ngoài, hoặc đóng qua doanh nghiệp, tổ chức sự nghiệp đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài.

Theo Đại đoàn kết

Không thu phí giới thiệu việc làm đối với người lao động

11:01 |
TTLĐ - Bộ Tài chính đang dự thảo Thông tư hướng dẫn mức thu, chế độ thu, nộp, quản lý và sử dụng phí giới thiệu việc làm. Trong đó quy định Trung tâm giới thiệu việc làm không thu phí giới thiệu việc làm đối với người lao động.

Không thu phí giới thiệu việc làm đối với người lao động

Ảnh minh họa. Nguồn: internet.

Theo dự thảo, Trung tâm giới thiệu việc làm thu phí tư vấn cho người sử dụng lao động không quá 20.000 đồng; phí giới thiệu việc làm cho người sử dụng lao động không quá 20% tiền lương 1 tháng lương đầu ghi trong hợp đồng lao động; phí cung ứng lao động và tuyển lao động theo yêu cầu của người sử dụng lao động cho người sử dụng lao động không quá 30% số tiền lương 1 tháng lương đầu ghi trong hợp đồng lao động.

Doanh nghiệp hoạt động giới thiệu việc làm thu phí đối với người lao động với mức phí được đề xuất như sau: Phí tư vấn không quá 10.000 đồng; phí giới thiệu việc làm không quá 200.000 đồng; phí cung ứng lao động và tuyển lao động theo yêu cầu của người sử dụng lao động không quá 20% tiền lương 1 tháng lương đầu ghi trong hợp đồng lao động.

Dự thảo cũng nêu: Tiền lương theo hợp đồng để làm căn cứ tính phí giới thiệu việc làm gồm tiền lương cấp bậc, chức vụ và phụ cấp khu vực, phụ cấp chức vụ (nếu có), không bao gồm: tiền làm thêm giờ, tiền thưởng và các khoản trợ cấp khác, nhưng không được thấp hơn mức lương tối thiểu do Nhà nước quy định.

Căn cứ vào tình hình thực tế và nhu cầu của địa phương, tổ chức giới thiệu việc làm quy định mức thu cụ thể đối với từng đối tượng nộp phí cho phù hợp với trình độ của người lao động (lao động phổ thông, lao động có nghề, lao động có trình độ cao đẳng, lao động có trình độ trung cấp, lao động có trình độ đại học...), địa bàn giới thiệu việc làm (trong tỉnh, ngoài tỉnh...), số lượng lao động được giới thiệu..., nhưng không được vượt quá mức thu trên.

Theo Hải Quan

Quy định mới về cấp giấy phép lao động cho người nước ngoài

10:37 |
TTLĐ - Ngày 3/2/2016 Chính phủ ban hành Nghị định số 11/2016/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành Bộ luật Lao động về lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam.

Nghị định này quy định chi tiết thi hành Bộ luật Lao động về cấp giấy phép lao động cho lao động là công dân nước ngoài vào làm việc tại Việt Nam; việc trục xuất lao động là công dân nước ngoài làm việc tại Việt Nam không có giấy phép lao động.

Theo đó, điều kiện để cấp giấy phép lao động cho người nước ngoài tại Việt Nam bao gồm:

- Có năng lực hành vi dân sự đầy đủ theo quy định của pháp luật.

- Có sức khỏe phù hợp với yêu cầu công việc.

- Là nhà quản lý, giám đốc điều hành, chuyên gia hoặc lao động kỹ thuật.

- Không phải là người phạm tội hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật Việt Nam và pháp luật nước ngoài.

- Được chấp thuận bằng văn bản của cơ quan nhà nước có thẩm quyền về việc sử dụng người lao động nước ngoài.

Quy định mới về cấp giấy phép lao động cho người nước ngoài

Người nước ngoài làm việc tại Việt Nam phải xin giấy phép lao động (ảnh minh họa).

Bên cạnh đó Nghị định cũng quy định rõ quy trình, thủ tục cấp giấy phép lao động tại Điều 12. Cụ thể: Trước ít nhất 15 ngày làm việc, kể từ ngày người lao động nước ngoài dự kiến bắt đầu làm việc cho người sử dụng lao động thì người sử dụng lao động đó phải nộp hồ sơ đề nghị cấp giấy phép lao động cho Sở Lao động - Thương binh và Xã hội nơi người lao động nước ngoài dự kiến làm việc.

Trong thời hạn 07 ngày làm việc, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ đề nghị cấp giấy phép lao động, Sở Lao động - Thương binh và Xã hội cấp giấy phép lao động cho người lao động nước ngoài theo mẫu do Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội quy định. Trường hợp không cấp giấy phép lao động thì có văn bản trả lời và nêu rõ lý do.

Đối với người lao động nước ngoài thực hiện hợp đồng lao động thì sau khi người lao động nước ngoài được cấp giấy phép lao động thì người sử dụng lao động và người lao động nước ngoài phải ký kết hợp đồng lao động bằng văn bản theo quy định của pháp luật lao động Việt Nam trước ngày dự kiến làm việc cho người sử dụng lao động.

Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày ký kết hợp đồng lao động, người sử dụng lao động phải gửi bản sao hợp đồng lao động đã ký kết tới Sở Lao động - Thương binh và Xã hội đã cấp giấy phép lao động đó.

Nghị định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/4/2016.

Theo Người đưa tin

Tăng cường công tác an toàn lao động, ổn định tình hình lao động

09:54 |
TTLĐ - Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội đã có Công điện số 01/CĐ-LĐTBXH yêu cầu tăng cường công tác an toàn lao động, ổn định tình hình lao động, việc làm tại các cơ sở sản xuất, kinh doanh.

Tăng cường công tác an toàn lao động, ổn định tình hình lao động
Đào tạo về an toàn lao động

Kiểm tra, thực hiện các biện pháp đảm bảo an toàn lao động

Trong thời gian gần đây, trên cả nước đã xảy ra một số vụ việc mất an toàn lao động khá nghiêm trọng, gây thiệt hại về người và của. Quan hệ lao động tại một số doanh nghiệp, cơ sở sản xuất kinh doanh có dấu hiệu phức tạp nảy sinh.

Nhằm tăng cường công tác an toàn lao động, chủ động giải quyết các tranh chấp lao động trong những tháng đầu năm 2016, nhất là trong thời gian diễn ra Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XII và dịp Tết Nguyên đán Bính Thân năm 2016, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội đề nghị các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương theo chức năng, nhiệm vụ liên quan chỉ đạo và yêu cầu cơ quan, tổ chức, cơ sở sản xuất, kinh doanh thuộc quyền quản lý tăng cường tự kiểm tra và thực hiện các biện pháp đảm bảo an toàn lao động; cử và phân công người trực trong dịp Tết để đảm bảo xử lý kịp thời khi có tai nạn, sự cố lao động xảy ra.

Các cơ quan chức năng rà soát, tiến hành thanh tra, kiểm tra, đôn đốc thực hiện các biện pháp đảm bảo an toàn lao động và phòng, chống cháy nổ tại các công trình xây dựng tiếp giáp với các khu đông dân cư, các đường giao thông đông người đi lại, các công trình xây dựng ngầm, các mỏ khai thác hầm lò, các công trình vui chơi công cộng, các tuyến cáp treo vận chuyển người, trong công tác hàn, sản xuất vật liệu xây dựng... Yêu cầu người sử dụng lao động tiến hành khắc phục ngay đối với những nơi có nguy cơ xảy ra tai nạn lao động, cháy nổ. Đồng thời, khi có các sự việc nghiêm trọng xảy ra, tổ chức xử lý theo thẩm quyền và báo cáo nhanh thông tin về Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội.

Các cơ quan truyền thông tăng cường tuyên truyền, nhắc nhở việc đảm bảo an toàn lao động, phòng, chống cháy nổ xảy ra tại nơi làm việc.

Thực hiện đầy đủ các chế độ, quyền lợi của người lao động

Các doanh nghiệp thực hiện đúng quy định về mức lương tối thiểu vùng theo quy định tại Nghị định số 122/2015/NĐ-CP của Chính phủ; phối hợp với Ban Chấp hành Công đoàn cơ sở xây dựng phương án thưởng trong dịp Tết, bảo đảm thực hiện đầy đủ các chế độ, quyền lợi của người lao động; có biện pháp quan tâm, chăm lo đời sống vật chất, tinh thần cho người lao động trong dịp Tết Nguyên đán như: sắp xếp bố trí lịch làm việc, lịch trực lao động sản xuất phù hợp, hỗ trợ phương tiện đi lại cho người lao động về quê và quay trở lại làm việc sau Tết...

Bên cạnh đó, tăng cường đối thoại tại các doanh nghiệp, chủ động phòng ngừa không để tranh chấp lao động và đình công xảy ra.

Ngoài ra, các cơ quan chức năng của địa phương nắm tình hình, phối hợp xử lý trong trường hợp xảy ra tình trạng công nhân ngừng việc, đình công; hỗ trợ các bên sớm ổn định, đưa hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp trở lại bình thường. Có biện pháp ngăn ngừa và xử lý kịp thời cá nhân lợi dụng tình hình kích động, lôi kéo người lao động ngừng việc, đình công, vi phạm pháp luật, gây mất trật tự, an toàn xã hội, đặc biệt là trong thời gian diễn ra Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XII và dịp Tết Nguyên đán Bính Thân năm 2016.

Theo Báo chính phủ

Tư vấn pháp luật cho hơn 3.000 công nhân

10:27 |
TTLĐ - Ngày hội Tư vấn và Giải đáp pháp luật cho người lao động do Báo Lao Động phối hợp cùng LĐLĐ TP HCM tổ chức đã diễn ra sáng 10-1 tại Khu Du lịch Văn hóa Suối Tiên với sự tham gia của hơn 3.000 công nhân đang làm việc tại thành phố.

Tại ngày hội, hơn 30 luật sư đã tư vấn và giải đáp miễn phí những thắc mắc của công nhân liên quan đến chế độ chính sách, nhất là các quy định mới của Luật BHXH sửa đổi năm 2014. Đến với ngày hội, công nhân còn được thưởng thứcchương trình văn nghệ và các tiểu phẩm lồng ghép những tình huống pháp luật xung quanh Bộ Luật Lao động, Luật Công đoàn, BHYT, BHXH, bảo hiểm thất nghiệp… do các thành viên Trung tâm Tư vấn pháp luật Công đoàn Đồng Nai biểu diễn. Trong khuôn khổ ngày hội, CLB Kết bạn trăm năm Báo Lao Động cũng tư vấn tâm lý, tình yêu hôn nhân gia đình và chăm sóc sức khỏe cho công nhân.

Tư vấn pháp luật cho hơn 3.000 công nhân

Công nhân tham gia trả lời các tình huống tại ngày hội

Phát biểu tại ngày hội, ông Nguyễn Văn Ngàng, Phó Chủ tịch Tổng LĐLĐ Việt Nam, đánh giá đây là một hoạt động rất ý nghĩa, không chỉ giúp công nhân lao động hiểu và hành xử đúng luật mà còn giúp họ tự bảo vệ quyền lợi bản thân. Trong thời gian tới, Tổng LĐLĐ Việt Nam sẽ tiếp tục chỉ đạo để chương trình tư vấn lan rộng đến các tỉnh, thành khác, góp phần nâng caokiến thức pháp luật cho công nhân.

Theo Người lao động

Thưởng Tết 2016: Những điều người lao động nên biết

19:56 |
TTLĐ - Việc trả tiền thưởng tết âm lịch không phải là quy định bắt buộc doanh nghiệp phải thực hiện mà chỉ là khuyến khích người sử dụng lao động nên làm.

Theo Điều 103 Bộ luật Lao động 2012, tiền thưởng là khoản tiền mà người sử dụng lao động thưởng cho người lao động căn cứ vào kết quả sản xuất kinh doanh hằng năm và mức độ hoàn thành công việc của người lao động. Quy chế thưởng do người sử dụng lao động quyết định và công bố công khai tại nơi làm việc sau khi tham khảo ý kiến của tổ chức đại diện tập thể lao động tại cơ sở.

Thưởng Tết 2016: Những điều người lao động nên biết

Điều này có nghĩa, tiền thưởng tết âm lịch sẽ dựa trên cơ sở thỏa thuận của người sử dụng lao động với người lao động thông qua hợp đồng lao động, thỏa ước lao động tập thể. Việc trả tiền thưởng tết âm lịch không phải là quy định bắt buộc doanh nghiệp phải thực hiện mà chỉ là khuyến khích người sử dụng lao động nên có chế độ đãi ngộ tốt nhất cho người lao động để họ tăng gia sản xuất.

Từng doanh nghiệp có thể căn cứ vào tình hình, kết quả sản xuất, kinh doanh để quyết định mức thưởng cho người lao động dựa trên hợp đồng lao động hoặc có cộng dồn thời gian học việc, thử việc…

Tết năm nay, do tình hình kinh tế khó khăn, nhiều doanh nghiệp vẫn đang cân nhắc việc thưởng Tết cho người lao động; nhiều doanh nghiệp rơi vào tình trạng nợ lương người lao động nhiều tháng liền. Để tránh tình trạng doanh nghiệp nợ lương, khất thưởng với người lao động dịp Tết, Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội đã có văn bản đôn đốc các địa phương kiểm tra, báo cáo tình hình lương, thưởng tại các doanh nghiệp về Bộ trước ngày 30/12.

Liên quan đến quyền lợi của người lao động trong những dịp nghỉ lễ, tết, theo Bộ Luật lao động, người lao động được nghỉ làm việc, hưởng nguyên lương trong những ngày lễ, tết sau đây:

Tết Dương lịch 01 ngày (ngày 01 tháng 01 dương lịch);

Tết Âm lịch 05 ngày;

Ngày Chiến thắng 01 ngày (ngày 30 tháng 4 dương lịch);

Ngày Quốc tế lao động 01 ngày (ngày 01 tháng 5 dương lịch);

Ngày Quốc khánh 01 ngày (ngày 02 tháng 9 dương lịch);

Ngày Giỗ Tổ Hùng Vương 01 ngày (ngày 10 tháng 3 âm lịch).

Lao động là công dân nước ngoài làm việc tại Việt Nam ngoài ngày nghỉ lễ theo quy định còn được nghỉ thêm 01 ngày Tết cổ truyền dân tộc và 01 ngày Quốc khánh của nước họ.

Nếu những ngày nghỉ theo quy định trùng vào ngày nghỉ hằng tuần, thì người lao động được nghỉ bù vào ngày kế tiếp.

Lao động thời vụ không làm quá 12 giờ/ngày

10:37 |
TTLĐ - Bộ LĐ-TB&XH vừa ban hành Thông tư số 54/2015/TT-BLĐTBXH hướng dẫn về thời giờ làm việc, nghỉ ngơi đối với người lao động làm công việc có tính thời vụ và gia công theo đơn đặt hàng.

Lao động thời vụ không làm quá 12 giờ/ngày

Đối tượng áp dụng là người lao động làm việc theo chế độ hợp đồng lao động có thời hạn từ đủ 12 tháng đến 36 tháng và hợp đồng lao động không xác định thời hạn làm công việc có tính thời vụ trong ngành nông - lâm - ngư - diêm nghiệp; Gia công hàng theo đơn đặt hàng, bị phụ thuộc vào thời điểm chủ hàng yêu cầu, bao gồm cả các ngành dệt, may, da, giày, lắp ráp linh kiện điện tử. 

Theo đó, tổng số giờ làm việc tiêu chuẩn và số giờ làm thêm trong 1 ngày không quá 12 giờ; đối với người lao động làm các nghề, công việc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm không quá 9 giờ. Thông tư có hiệu lực kể từ 10-2-2016.